Càng Long: Sức dân dựng xây quê Mẹ (Giai đoạn 1996-2000) (1)
Trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ mới, mảnh đất Càng Long vẫn còn hằn sâu dấu vết của một thời gian khó. Những con đường đất lầy lội mỗi khi mưa về, những mái nhà tranh còn ẩn mình dưới ánh đèn dầu leo lét, và khát vọng về một cuộc sống đủ đầy vẫn còn là niềm trăn trở trong mỗi nếp nhà. Thế nhưng, trong chính giai đoạn 1996-2000, một khúc hoan ca của sự chuyển mình đã vang lên. Đó là thời khắc mà những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng như dòng phù sa mát lành gặp gỡ mảnh đất lòng dân đang khao khát vươn lên. Bức tranh quê hương khi ấy không chỉ được vẽ nên bởi những nghị quyết, mà còn lấp lánh bởi ánh sáng của mồ hôi, đong đầy bởi công sức, và vững chãi bởi tinh thần đoàn kết phi thường của mỗi người con Càng Long. Những thành tựu to lớn của huyện nhà trong 5 năm này không nằm trên những con số báo cáo khô khan, mà được viết nên bởi chính "sức dân" – nguồn nội lực vô tận đã biến nghị quyết thành hiện thực sống động, làm thay da đổi thịt cả một vùng đất.
--------------------------------------------------------------------------------
1. Thắp Sáng Miền Quê, Mở Rộng Đường Về
Hành trình đổi thay của Càng Long trong những năm cuối thế kỷ 20 được đánh dấu bằng hai biểu tượng đầy ý nghĩa: ánh điện và những con đường. Đưa dòng điện quốc gia về các xã vùng sâu, thay thế lối mòn đất cát bằng những tuyến lộ thông thoáng là khát vọng cháy bỏng của cả Đảng bộ và nhân dân. Khi chủ trương được ban hành, một làn sóng hưởng ứng mạnh mẽ đã lan tỏa khắp các thôn xóm, biến công trường của Nhà nước thành công việc của mỗi nhà. Sự đồng lòng ấy được thể hiện qua những hành động cống hiến đầy cảm hứng và vị tha.
"Tại xã Mỹ Cẩm, khi người dân hay tin điện về, gần 1.000 hộ có đường dây đi ngang qua đã tự nguyện dời nhà, hiến cây trồng mà không cần bồi hoàn. Tiêu biểu là tấm gương của ông Nguyễn Văn Như ở ấp số 6, đã hiến trên 100 cây dừa để đường dây điện đi qua."
Tinh thần "Nhà nước và nhân dân cùng làm" đã trở thành động lực chính, tạo nên một cuộc cách mạng trong xây dựng hạ tầng. Vào thời điểm mà mỗi đồng tiền đều chắt chiu từ mồ hôi nước mắt, chính bàn tay và khối óc của người dân đã góp phần tạo nên những thành quả ấn tượng:
• Nhân dân đóng góp gần 2 tỷ đồng cho các công trình hạ tầng. Con số ấy không chỉ là tiền, đó là minh chứng cho sự hy sinh và niềm tin sắt đá vào tương lai, là giá trị của hàng vạn giạ lúa, hàng ngàn cây dừa.
• Nhân dân cùng chính quyền xây dựng hàng chục cây cầu bê-tông tại các xã Mỹ Cẩm, Bình Phú, Đức Mỹ, Nhị Long, Huyền Hội, nối liền những đôi bờ cách trở, mở ra hy vọng.
• Người dân góp 35% kinh phí cùng nhà nước cải tạo, nâng cấp tuyến đường đá liên ấp dài trên 20km tại xã Nhị Long, dưới sự vận động đầy tâm huyết của Bí thư Đảng ủy Nguyễn Hồng Điều (Út Điều).
Trong phong trào ấy, đã xuất hiện những cá nhân tiêu biểu, là cầu nối giữa ý Đảng và lòng dân. Đó là ông Thân Văn Bỉnh, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ, người tích cực đi đầu vận động bà con xây dựng đường sá. Đó là đồng chí Đỗ Phú Hữu ở xã Bình Phú, vị nguyên Bí thư huyện Châu Thành trong thời chín năm kháng chiến chống Pháp, tuổi đã cao nhưng vẫn không quản ngại vất vả cùng chính quyền xã đi đến tỉnh, huyện xin chủ trương kéo điện, làm đường cho quê hương. Sự đồng tâm hiệp lực ấy đã khiến bộ mặt nông thôn thay đổi từng ngày, thắp lên niềm tin và sự phấn khởi trong lòng mỗi người dân.
Khi những con đường được mở rộng và ánh điện tỏa sáng, một sức sống kinh tế mới cũng bắt đầu bừng lên trên khắp các thôn xóm.
--------------------------------------------------------------------------------
2. Đồng Bưng Trĩu Hạt, Phố Chợ Nở Hoa
Ánh điện và đường mới đã thực sự khơi thông dòng chảy kinh tế. Trên đồng ruộng, người nông dân Càng Long với sự cần cù vốn có, nay lại được tiếp thêm sức mạnh từ tư duy sản xuất mới. Họ không chỉ tận dụng triệt để đất đai, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, mà còn mạnh dạn đưa hơn 500 máy cày, 300 máy tuốt lúa vào đồng ruộng. Kết quả là những cánh đồng mẫu lúa chất lượng cao ngày càng mở rộng, giá trị nông-ngư nghiệp tăng trưởng 13,09% so với năm 1990, mang lại những vụ mùa no ấm.
Không chỉ có ruộng đồng khởi sắc, các khu phố chợ cũng trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Làn sóng phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể đã tạo nên một sự bùng nổ thật sự. Nếu như trước đó, toàn huyện chỉ có trên 400 cơ sở sản xuất, thu hút khoảng 1.500 lao động, thì đến cuối giai đoạn, con số này đã tăng vọt một cách ngoạn mục:
• Toàn huyện có gần 2.500 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, một sự gia tăng gần 2.000 cơ sở.
• Các cơ sở này đã tạo việc làm ổn định cho trên 6.000 lao động địa phương.
• Hơn 2.000 hộ gia đình mạnh dạn đầu tư kinh doanh thương mại, dịch vụ.
Thành tựu đáng tự hào nhất có lẽ là kết quả thu ngân sách. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đang ảnh hưởng cả khu vực, Càng Long vẫn xuất sắc vượt chỉ tiêu (huyện đạt 109,39%, xã đạt 122,81%). Đây không chỉ là thành công trong công tác quản lý của Nhà nước, mà còn là minh chứng hùng hồn cho niềm tin và sự đồng lòng, chung sức của nhân dân. Mỗi đồng thuế người dân đóng góp đều thể hiện trách nhiệm và khát vọng xây dựng quê hương giàu mạnh.
Kinh tế phát triển đã tạo nền tảng vững chắc để Đảng bộ và nhân dân Càng Long cùng nhau chăm lo, xây đắp nên một đời sống tinh thần phong phú và một xã hội văn minh.
--------------------------------------------------------------------------------
3. Xây Đắp Đời Sống Văn Hóa và Xã Hội
Khi cái bụng đã no, người dân Càng Long lại cùng nhau chăm lo cho "cái chữ" và sức khỏe. Sự nghiệp giáo dục và y tế không còn là trách nhiệm của riêng nhà nước, mà đã trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội.
Lĩnh Vực
Đóng Góp Tiêu Biểu Của Nhân Dân
Giáo dục
Hội cha mẹ học sinh tích cực cùng huyện chăm lo xây dựng trường lớp, góp phần xóa cơ bản phòng học tre lá, mang lại không gian học tập khang trang cho con em.
Y tế
Chỉ thị 200 của Thủ tướng Chính phủ khi về đến Càng Long đã biến thành một cuộc vận động sôi nổi. Người dân tự giác giải tỏa "nhà tiêu" trên kênh rạch, xây nhà vệ sinh mới và đóng giếng nước sạch để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đã đi vào chiều sâu, trở thành một cuộc vận động lớn làm thay đổi nếp nghĩ, cách sống. Đến năm 2000, huyện đã công nhận thêm 14 ấp, khóm văn hóa, nâng tổng số lên 20 ấp, khóm văn hóa cùng 15.003 gia đình văn hóa. Càng Long tự hào là huyện thứ hai trong tỉnh có ấp văn hóa. Những cái tên như ấp Thạnh Hiệp (Nhị Long), ấp Trung, Thượng, Hạ (Đại Phước), ấp số 3 (Mỹ Cẩm), Khóm 7 (thị trấn Càng Long) đã trở thành những đơn vị tiên phong, là niềm tự hào của cả huyện.
Đặc biệt, câu chuyện về đội ghe ngo xã Phương Thạnh là một bản tình ca về tinh thần đoàn kết cộng đồng. Năm 2000, khi đóng mới ghe ngo theo phương châm tỉnh hỗ trợ 70%, xã hội hóa 30%, chùa Pysey Vararam (chùa Ba Si) và người dân trong xã đã cùng nhau chung sức, chung lòng tập hợp và chăm lo cho 72 vận động viên. Nhà chùa lo cơm ăn, còn hỗ trợ gạo cho gia đình để các tay chèo yên tâm luyện tập. Chính từ sự chung sức ấy, đội ghe ngo Phương Thạnh đã liên tục gặt hái thành tích cao, mang vinh quang về cho quê nhà.
Cùng với việc xây dựng đời sống mới, truyền thống "uống nước nhớ nguồn" và tinh thần tương thân tương ái luôn được người dân Càng Long trân trọng và phát huy.
--------------------------------------------------------------------------------
4. Nghĩa Tình Sâu Nặng, An Lành Phố Xóm
Truyền thống "Đền ơn đáp nghĩa" được thể hiện sâu sắc qua câu chuyện về Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Kính ở ấp Rạch Rô III, xã Nhị Long. Mẹ có 4 người con là liệt sĩ, nhưng sự hy sinh thầm lặng của Mẹ còn lớn lao hơn thế. Ít ai biết rằng, trong suốt 6 năm kháng chiến, Mẹ chính là người đã nuôi giấu và bảo vệ an toàn cho Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam Nguyễn Thị Định. Năm 1997, căn nhà tình nghĩa do Tổng Bí thư Đỗ Mười trao tặng đã được Tỉnh ủy quyết định dành cho Mẹ, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và cũng là tấm lòng tri ân sâu sắc của nhân dân với người Mẹ anh hùng.
Phong trào đền ơn đáp nghĩa lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Người dân tích cực quyên góp xây dựng hàng chục căn nhà tình nghĩa, chăm lo cho các gia đình chính sách. Tại ấp Thạnh Hiệp, chính ông Phan Thành Ty là người đã đi đầu, làm gương đóng góp công sức và tiền của để xây dựng nhà truyền thống, một công trình ghi nhớ sự hy sinh của các thế hệ cha anh.
Bên cạnh nghĩa tình sâu nặng, sự bình yên của phố xóm cũng được dệt nên từ chính sức mạnh của quần chúng. Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc đã phát triển sâu rộng, huy động đông đảo người dân tham gia:
• Thành lập hơn 1.500 Tổ an ninh nhân dân, tạo thành một mạng lưới an ninh vững chắc đến từng hộ gia đình.
• Thành lập gần 30 Đội thanh niên xung kích, lực lượng nòng cốt trong việc giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Chính sức mạnh to lớn này đã góp phần giữ vững sự bình yên cho quê hương, giải quyết các vấn đề phức tạp ngay từ cơ sở và củng cố thêm tình đoàn kết keo sơn giữa ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa.
Từ những con đường, cây cầu đến những nếp nhà văn hóa, tất cả đều mang đậm dấu ấn của sự đồng tâm, hợp lực giữa Đảng và dân.
--------------------------------------------------------------------------------
Lời Kết: Di Sản Của Tinh Thần Đoàn Kết
Nhìn lại chặng đường 5 năm (1996-2000), Càng Long đã viết nên một chương rực rỡ trong lịch sử phát triển của mình. Những thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội là kết quả tất yếu của sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng bộ và quan trọng hơn cả, là sự kết tinh từ sức mạnh nội lực to lớn của nhân dân.
Di sản quý giá nhất mà giai đoạn này để lại không chỉ là những công trình vật chất, mà chính là niềm tin được củng cố, là tinh thần đoàn kết được nâng lên một tầm cao mới, là ý chí tự lực tự cường của người dân Càng Long. Khúc ca về ý Đảng lòng dân của những năm tháng ấy vẫn còn vang vọng mãi. Những câu chuyện về sự cống hiến thầm lặng mà vĩ đại của ông Nguyễn Văn Như, ông Phan Thành Ty, và hàng ngàn người dân vô danh khác chính là nguồn động lực quý báu, là ngọn lửa thắp sáng cho thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng quê hương Càng Long ngày càng giàu đẹp, văn minh.


