Bài viết

CÀNG LONG TỪ NAM KỲ KHỞI NGHĨA ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1939-1945) (1)

Vĩnh Long19/11/2025ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ CÀNG LONG (ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ CÀNG LONG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÀNG LONG TỪ NAM KỲ KHỞI NGHĨA ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1939-1945) (1)

Tham gia Nam Kỳ Khởi nghĩa

Vào những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh cách mạng nước ta không còn nằm trong thời kỳ đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh nữa mà đã bước sang một giai đoạn mới: giai đoạn đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai giành độc lập cho đất nước. Những hình thức và phương pháp đấu tranh trong thời kỳ 1936-1939 không còn thích hợp nữa.

Ngày 01-9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Dalađiê (Daladier) Pháp tuyên bố tham chiến, đặt Đảng Cộng sản Pháp ra ngoài vòng pháp luật. Ở Đông Dương, nhà cầm quyền thuộc địa ra sức lùng bắt đưa đi an trí tù đày những người Cộng sản. Toàn quyền Đông Dương, Đại tướng Catoru (Catroux) phát lệnh tổng động viên. Hàng vạn thanh niên Việt Nam bị bắt làm lính chiến, lính thợ đưa sang chính quốc. Của cải của Đông Dương được vơ vét đưa sang Pháp phục vụ cho chiến tranh đế quốc.

Trước tình hình mới, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ sáu từ ngày 06 đến ngày 08-11-1939 tại xã Tân Thới Nhất - Bà Điểm (nay thuộc Hóc Môn) dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Tham dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng như Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Lê Duẩn... Hội nghị tiên đoán sự thất bại của bọn đế quốc, phát xít. Thừa cơ chúng tước đoạt lẫn nhau, nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa sẽ nổi dậy lật đổ ách áp bức, nhân dân các nước thuộc địa sẽ vùng lên vứt bỏ ách tôi đòi. Hội nghị khẳng định: Cách mệnh giải phóng dân tộc Đông Dương sẽ thắng! Cách mệnh thế giới thế nào cũng sẽ thắng... Hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương, vì “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ thực dân Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc”. Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất thay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của đế quốc Pháp và bọn phản bội quyền lợi của dân tộc. Thay khẩu hiệu chính quyền công nông bằng khẩu hiệu Chính phủ Cộng hòa Dân chủ; chủ trương mở rộng phong trào quần chúng thật mạnh mẽ, hướng tất cả những cuộc đấu tranh lẻ tẻ vào cuộc đấu tranh “Phản đối đế quốc chiến tranh, chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, mở đường đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sau này.

3 Tháng 7-1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp hội nghị chủ trương phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân (trên cơ sở cân nhắc vấn đề thời cơ, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và chờ chấp thuận của Trung ương). Sau đó, đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy (thay thế Võ Văn Tần đã bị mật thám bắt) xuống Trà Vinh phổ biến chủ trương và kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa. Đảng bộ tỉnh Trà Vinh do đồng chí Võ Hoàng làm Bí thư, đồng chí Phạm Thái Bường làm Phó Bí thư tiến hành hội nghị đại biểu, quán triệt chủ trương của Xứ ủy, xúc tiến kế hoạch chuẩn bị. Ở Càng Long, kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa được xúc tiến dưới sự chỉ đạo của đồng chí Dương Háo Học và đồng chí Nguyễn Văn Hai. Mít tinh, tuần hành biểu dương lực lượng diễn ra khắp các xã. Cờ đỏ búa liềm, biểu ngữ, truyền đơn xuất hiện ở nhiều nơi, kể cả trong công sở và trại lính kêu gọi chống bắt lính, chống đưa thanh niên Việt Nam đi làm bia đỡ đạn thay cho Pháp. Các lò rèn ở các ấp, xóm làm việc ngày đêm sản xuất giáo mác, lao... làm vũ khí cho quân khởi nghĩa. Tháng 11-1940, dưới sự lãnh đạo của Quận ủy, các chi bộ các xã đã phát động quần chúng, xây dựng đội ngũ, quyết tâm cùng toàn quận khởi nghĩa chiếm dinh quận làm một cuộc đổi đời. Các quận ủy viên được phân công về các xã kiểm tra phương án hành động và tập dượt bạo động. Dương Háo Học về chỉ đạo tại xã nhà Tân An. Do hoạt động chuẩn bị bạo động của chi bộ không che mắt được bọn tay sai cánh địa chủ họ Lâm Quang, quân địch cho lính kín về bao vây bắt các đồng chí Dương Háo Học, Trương Văn Đa, xã Dũng, Hai Thuận và nhiều quần chúng cách mạng khác. Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa ở Tân An bị dừng lại từ đêm 21-11. Ngày 22-11-1940, Xứ ủy Nam Kỳ do Tạ Uyên làm Bí thư phát lệnh khởi nghĩa trên toàn xứ. Nhưng kế hoạch khởi nghĩa toàn xứ bị lộ, nhiều tuyến liên lạc bị gián đoạn. Do có nội gián nên ngay trong ngày 22-11, Ủy ban lãnh đạo khởi nghĩa toàn xứ bị địch bắt. Mặc dầu vậy, Khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra đêm 22 rạng ngày 23-11-1940 với khí thế mạnh mẽ, có tính chất quần chúng rộng rãi chưa từng có, quy mô rộng lớn trên 16 tỉnh Nam Kỳ. Lệnh khởi nghĩa được chuyển đến nhiều cơ quan Tỉnh ủy, tới Tỉnh ủy Vĩnh Long, nhưng không tới Tỉnh ủy Trà Vinh. Trà Vinh và 3 tỉnh khác ở trong tư thế đợi lệnh. Tỉnh ủy viên Nguyễn Văn Hai đảm nhiệm lãnh đạo toàn quận sẵn sàng tư thế bạo động. Đêm 22 rạng 23-11-1940, khởi nghĩa ở Vũng Liêm do nữ cán bộ Hồng, Bí thư Quận ủy lãnh đạo giành thắng lợi. Quân khởi nghĩa chiếm được quận lỵ. Được tin khởi nghĩa ở Vũng Liêm thắng lợi, mặc dù chưa được lệnh khởi nghĩa, Quận ủy Càng Long đã huy động lực lượng lập nhiều chướng ngại vật ngăn chặn quân địch từ Trà Vinh lên đàn áp khởi nghĩa ở Vũng Liêm, làm bị thương tên tỉnh trưởng Trà Vinh và gây cho địch nhiều khó khăn, góp phần tạo điều kiện cho quân khởi nghĩa ở Vũng Liêm làm chủ quận lỵ trên 3 ngày. Hai bức điện liên tiếp của Chủ tỉnh Trà Vinh và của bác sĩ trưởng Trà Vinh gửi Thống sứ Nam Kỳ 10 giờ ngày 23-11-1940 ghi: “... Tôi phải dừng lại ở cột cầu số 27 đang cháy, chúng tôi rơi vào một ổ phục kích. Chúng tôi phải chịu đựng súng bắn vào chúng tôi. Tôi cũng như hạ sĩ quan lính thủ hộ Vũng Liêm và tài xế đều bị thương...”. Tỉnh trưởng Trà Vinh bị thương vì đạn trúng ở chân ở và đùi trái. Việc chuyển đi là cần thiết. Không thể mổ ở Trà Vinh. Các con đường bị cắt và không bảo đảm. Yêu cầu cho phái đến khẩn cấp một thủy phi cơ cấp cứu hạ cánh ở Vàm Trà Vinh, nếu không được xin một Sa-lúp. Cần thiết gửi người thay Tỉnh trưởng.”.

1. Công điện mã số 713C, Trà Vinh ngày 23-11-1940 lúc 10 giờ. Chủ tỉnh gửi Thống sứ - ưu tiên tuyệt đối.

2. Công điện Trà Vinh số 716C ngày 23-11-1940 lúc 10 giờ. Bác sĩ trưởng gửi Thống đốc Sài Gòn - ưu tiên. cần xét xử. Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp thi hành chính cán bộ, quần chúng cách mạng bị bắt, tù đày, thủ tiêu không sách khủng bố trắng hết sức tàn bạo. Hàng loạt đảng viên, Trước tình hình khó khăn, tháng 11-1940, để kiện toàn cơ Nữ, Phạm Thái Bường được bổ sung vào Xứ ủy để tiếp tục quan lãnh đạo của Đảng bộ Xứ ủy, các đồng chí Dương Công lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Nguyễn Văn Hai (tên thường dùng Hai Ho Lao), Tỉnh ủy viên kiêm nhiệm Bí thư Quận ủy Càng Long được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh; Phan Văn Bảy (Hội đồng Cùi) làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Quận ủy Càng Long cũng được củng cố, gồm: Ba Đấu (Râu già), Bí thư Quận ủy; Đoàn Văn Thạch (Ba Thạch), Phó Bí thư; Nguyễn Thành Danh (Hai Nháy), Ủy viên Thường vụ; Sáu Xe, Quận ủy viên; Lê Thị Hết (Mười Hết), Quận ủy viên. Cuối tháng 11-1940, Tỉnh ủy Trà Vinh tổ chức Hội nghị đại biểu để bàn về tiến hành khởi nghĩa trong tình hình mới và bầu cử Tỉnh ủy, số đại biểu có mặt 12 người. Càng Long được cử 2 đại biểu là Đoàn Văn Thạch và Nguyễn Thành Danh. Tỉnh ủy mới có 9 người do Nguyễn Văn Hai (Hai Ho Lao) làm Bí thư, Phan Văn Bảy (Hội đồng Cùi) làm Phó Bí thư, Võ Hoàng làm Ủy viên Thường vụ. Đại biểu Càng Long là Đoàn Văn Thạch được cử vào Tỉnh ủy. Căn cứ của Tỉnh ủy Trà Vinh ở Càng Long cách quận lỵ khoảng 2km. Cuối tháng 12–1940, Tỉnh ủy Trà Vinh họp bàn chủ trương tiến hành khởi nghĩa lần thứ hai và đặt kế hoạch chuẩn bị Đồng chí Dương Công Nữ là Xứ ủy viên cùng Ngô Thị Huệ cán bộ Xứ ủy dự hội nghị. Địa điểm hội nghị là chuồng trâu Tư Trí chặt đội ngũ, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa lần cạnh miếng vườn ngã ba Giồng Trên. Hội nghị quyết định xiết thứ hai, cử Nguyễn Văn Hai đi xin ý kiến chỉ đạo thống nhất của Xứ ủy. Nguyễn Văn Hai lên Sài Gòn đến địa điểm liên lạc ở ngã tư Cây Gõ thì biết địa điểm bị lộ, một số xứ ủy viên lại bị bắt. Trước tình hình trên, đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Văn Hai tổ chức cuộc họp với những người còn lại của các tỉnh Hậu Giang để bàn việc chuyển vùng hoạt động cho các đảng viên quá lộ, tránh cuộc khủng bố trắng man rợ của kẻ thù. Thực hiện sự chuyển vùng, các đồng chí Phan Văn Bảy (Hội đồng Cùi, Phó Bí thư Tỉnh ủy) cùng Ba Râu, Nguyễn Thành Danh và nhiều người ở An Trường, Mỹ Cẩm, Tân An, Bình Phú, nhiều gia đình cách mạng như gia đình Mười Y, Sáu Lẹ... đều chuyển về Chắc Băng (Cà Mau). Tại đây, sau không bao lâu, các đồng chí Phan Văn Bảy, Ba Râu và Nguyễn Thành Danh không tránh khỏi lưới vây ráp của quân thù. Phan Văn Bảy (Hội đồng Cùi) đã nêu gương sáng anh hùng trước sự tra tấn và kết án tử hình của giặc Pháp. Ở Càng Long trong khi chỉ đạo thực hiện chuyển vùng hoạt động, đồng chí Nguyễn Văn Hai (Hai Ho Lao) bị Quản Biếu cùng bọn lính kín bắt tại vùng ngã ba Giồng Trên và bị đày ra Côn Đảo; đồng chí Đoàn Văn Thạch (Ba Thạch) cũng bị bắt. Nhiều người bị địch đày ra Côn Đảo đã hy sinh do bị địch tra tấn và sự khắc nghiệt của nhà tù: Nguyễn Văn Hai (1942), Dương Háo Học (1943). Đây là sự hy sinh, mất mát lớn cho nhân dân Trà Vinh và huyện Càng Long.

2. Tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 1 Năm 1941, Nhật nhảy vào Đông Dương, thiết lập các đồn bót và trang bị nhiều vũ khí. Chúng diệt hết địa chủ thân Pháp, lập nên những tay chân thân Nhật, đồng thời ra sức vơ vét

1. Thành phần tham gia hội nghị có: Nguyễn Văn Hai, Phan Văn Bảy, Tám Đen (Trà Vinh), Mỹ Hòa (Cần Thơ), Đời (Rạch Giá), Nguyễn Thị Hồng grod (Vĩnh Long). của cải trong nhân dân. Chúng tiến hành thu gom lúa để làm nhiên liệu cung cấp cho nhà máy điện Chợ Quán khiến cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực. Tháng 5-1941, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật. Từ thực tiễn đấu tranh trong Khởi nghĩa Bắc Sơn và Khởi nghĩa Nam Kỳ, Trung ương Đảng đã quyết định đẩy mạnh công tác trên nhiều mặt, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị tiến hành tổng khởi nghĩa tiến lên giành chính quyền trên toàn quốc. Tại Càng Long, qua cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp, phần lớn đảng viên, cán bộ bị địch bắt, một số đảng viên quá lộ chuyển vùng an toàn về Cà Mau. Nhưng một số đảng viên, trong đó nhiều người được kết nạp trong thời kỳ Mặt trận dân chủ được phân công ở lại bám sát nhân dân, dựa vào sự che chở của quần chúng cách mạng mà đảm đương nhiệm vụ cách mạng của Đảng bộ trong thời kỳ thoái trào. Đầu 1941, Quận ủy Càng Long gồm các đồng chí Huỳnh Văn Ngò, Trần Văn Điện, Nguyễn Văn Chánh... đã hoạt động bí mật để giữ vững lòng tin tưởng của nông dân và các tầng lớp nhân dân đối với Đảng. Công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng được đẩy mạnh ở An Trường, Mỹ Cẩm sang Tân An, Huyền Hội. ở T Tháng 6-1941, đồng chí Dương Văn Đê (đảng viên thuộc Chi bộ An Trường) sang Huyền Hội gây dựng lại phong trào ở đây. Dương Văn Đê đã tổ chức và vận động ông Phạm Văn Trẹt leo lên ngọn cây dừa tại kênh A cắm một lá cờ của Đảng. Ngọn cờ như đánh thức nông dân tá điền ở Huyền Hội đang bị địa chủ họ Lâm với hệ thống tài công và tai mắt kìm kẹp, kiểm soát gắt gao. Lá cờ nói lên qua khủng bố trắng, Đảng bộ Càng Long vẫn tồn tại và hoạt động. Ở Bình Phú đồng chí Nguyễn Văn Cúc được bố trí ở lại không chuyển vùng đã tuyên truyền tổ chức trong nông dân và đã xây dựng một Chi bộ lâm thời. Năm 1942, Tỉnh ủy Trà Vinh và hệ thống tổ chức đảng được củng cố và kiện toàn. Ban Chấp hành Tỉnh ủy có: Dương Quang Đông (Bí thư), Nguyễn Thành Thi và Kỉnh (Phó Bí thư), Huỳnh Văn Ngò, Nguyễn Kim Tiền, Nguyễn Thành Biện, Quảng, Nguyễn Duy Khâm. Ban Chấp hành Quận ủy Càng Long cũng được kiện toàn và do Huỳnh Văn Ngò làm Bí thư, Nguyễn Kim Tiền làm Phó Bí thư. Nguyễn Thành Thi được Tỉnh ủy phân công đặc trách quận Trà Cú. Các Chi bộ An Trường, Mỹ Cẩm, Bình Phú, Phương Thạnh được củng cố sớm. Nhiều đảng viên chuyển vùng và một số thoát ngục Bà Rá trở lại địa phương hoạt động. Giữa năm 1943, tại Càng Long, đại diện Xứ ủy Nam Bộ giao cho đồng chí Nguyễn Thành Thi, Phó Bí thư Tỉnh ủy tài liệu Tuyên ngôn và Mười chính sách của Mặt trận Việt Minh. Ngay khi nhận được tài liệu, công tác tuyên truyền được Tỉnh ủy triển khai nhanh chóng và bí mật xuống các quận, huyện. Các Hội Cứu quốc bắt đầu được hình thành. Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật làm đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Chỉ trong vòng 3 ngày, quân Pháp đã đầu hàng quân Nhật trên toàn cõi Đông Dương. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, và sẵn sàng chuyển sang hình thức tổng khởi nghĩa một khi có đủ điều kiện. Ở Càng Long cũng như ở các nơi, cuộc đảo chính ngày 09-3-1945 đã đập tan bộ máy cai trị và hệ thống mật thảm thuộc hệ thống chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim, chưa có gián điệp của Pháp từ quận đến nông thôn. Chủ quận mới thực quyền và không có thái độ chống đối cách mạng. Các hội tề tổng, xã trước đây thuộc hệ thống chính quyền thuộc địa của Pháp đã tự truất phế, giải tán. Bọn cường hào làm tay sai cho địch, bọn mật thám gián điệp cho Pháp trốn chạy không còn dám hoạt động. Trong tình hình đó, Đảng có thể tiến hành vận động cách mạng thông qua các tổ chức quần chúng công khai hợp pháp. Tù chính trị lợi dụng xung đột Nhật - Pháp mà tự giải phóng hoặc vượt ngục trở về địa phương tham gia lãnh đạo phong trào. Các chi bộ Đảng đóng ở các xã An Trường, Mỹ Cẩm, Tân An, Bình Phú, Phương Thạnh, Đức Mỹ, Nhị Long, Đại Phước đều được củng cố tăng cường và đẩy mạnh trong tình thế mới được tạo ra. La Đạ Tháng 3-1945, được sự chỉ đạo của Xứ ủy do Trần Văn Giàu làm Bí thư, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - một đảng viên cộng sản đứng ra thành lập Thanh niên Tiền phong, tranh thủ điều kiện công khai hợp pháp mau chóng tập hợp và rèn luyện lực lượng cách mạng đông đảo mà trọng tâm là thanh niên. Tại Càng Long, Quận ủy và các chi bộ xã đưa cán bộ, đảng viên, đoàn viên Thanh niên Cứu quốc, những người nhiệt tình Từ những kinh nghiệm hoạt động công khai hợp pháp trước và trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, và cũng nhằm “tương kế tựu kể”, Xứ ủy bí mật chủ trương giao cho Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nhận lời gợi ý của Ida phong trào thanh niên Sài Gòn và Nam Kỳ) đứng ra thành lập Thanh niên (quyền Tổng trưởng Thanh niên - Thể thao Đông Dương, trực tiếp nắm Tiền phong tổ chức công khai. Xem: Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1930–1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.298–299. yêu nước vào làm nòng cốt cho lực lượng Thanh niên Tiền phong, sử dụng phong trào Thanh niên Tiền phong mà tuyên truyền cổ động công khai rộng rãi, đưa đông đảo quần chúng vào đội ngũ cách mạng. Được tổ chức hợp tình thế, hợp lòng người, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, được Đảng lãnh đạo và hoạt động công khai hợp pháp, đội ngũ Thanh niên Tiền phong ở Càng Long phát triển nhanh chóng trở thành một lực lượng quần chúng hùng hậu có tổ chức của Quận ủy và các chi bộ. Thanh niên tiền phong lúc này đặt trụ sở ở các nhà việc xã, nơi không còn hội tề. Thanh niên Tiền phong đảm nhận một số chức năng của chính quyền: giải quyết công việc hằng ngày cần thiết của dân, Thanh niên Tiền phong canh gác các trụ sở, cầu đường, bảo vệ an ninh trật tự trong địa phương, đi tuyên truyền chính trị trong nhân dân, dạy bình dân học vụ và làm công tác xã hội, y tế ở địa phương, công khai tập luyện võ nghệ và chiến thuật quân sự. Thanh niên Tiền phong theo quy định lúc ban đầu thành lập như: đồng phục quần soọc xanh, áo trắng cộc tay, đầu đội nón rộng vành, cuộn dây thừng trên lưng, dao găm bên sườn, chào nhau bằng tay xoè ngang vai trái với khẩu lệnh: “Thanh niên tiến”. Nhưng nhờ không câu nệ nghi thức, nhất là về đồng phục, Thanh niên Tiền phong Càng Long đã tập hợp đông đảo dân nghèo thôn quê, nông dân tá điền vào đội ngũ. Đây là lực lượng bán vũ trang hợp pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng và là lực lượng xung kích hùng hậu thành đội ggga mod ist & mòn ngũ chuẩn bị cho khởi nghĩa. Ở Bình Phú, chi bộ Đảng cử cán bộ Vàng chuyên trách lãnh đạo Thanh niên Tiền phong. Chi bộ Tân An đưa cán bộ, đảng viên, những người cảm tình Đảng như: xã Dung, Đặng Ngọc Xuân, Võ Đông Hương, Phan Văn Dần... vào Thanh niên Tiền phong. Lực lượng Thanh niên Tiền phong xã từ thủ lĩnh đếnđoàn viên đều tự giác chịu sự lãnh đạo của chi bộ do Nguyễn Văn Thuận làm Bí thư. Ở Huyền Hội, Nguyễn Đáng bắt đầu tham gia vào ban huynh trưởng Thanh niên xã do Lâm Quang hoạt động cách mạng bằng cách vào Thanh niên Tiền phong, Khởi làm thủ lĩnh và đã hướng đoàn hoạt động theo sự chỉ đạo của các đảng viên Nguyễn Văn Nào, Dương Văn Đệ. Chi bộ An Trường do Nguyễn Kiến Nghĩa làm Bí thư đã thực sự coi Thanh niên Tiền phong là tổ chức thanh niên và quần chúng cách mạng của Đảng. Tháng 5-1945, Thanh niên Tiền phong đã huy động một cuộc mít tinh lớn ở đình Suối Cạn (ấp 3). Hơn 5.000 người đã tập trung nghe đồng chí Nguyễn Kiến Nghĩa diễn thuyết nói rõ truyền thống quật cường của dân tộc, tình thế hiện nay là tiền khởi nghĩa, chuẩn bị khởi nghĩa lật đổ chính quyền bù nhìn do Nhật lập ra, giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc mít tinh đã hâm nóng bầu nhiệt huyết cách mạng trong nhân dân. Ở Phương Thạnh, Thanh niên Tiền phong có thủ lĩnh là Đặng Tấn Trung (Đặng Sĩ Hùng) đảng viên cộng sản. Khác với các xã khác trong quận Càng Long, Thanh niên Tiền phong xã Phương Thạnh lại hợp đồng hoạt động với các tổng, xã quận Châu Thành tỉnh Trà Vinh. Ngày 07-5-1945, quân Đức - Ý đầu hàng đồng minh. Ngày 08-8-1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông chủ lực của quân phiệt Nhật. Đế quốc Mỹ vội vã ném 2 trái bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagasaki của Nhật. Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng chính thức công bố lệnh đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Từ ngày 13-8 đến 15-8-1945, Hội nghị Toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào quyết định: Phát động khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Toàn dân nổi dậy, triệu người như một, ý chí quật cường của dân tộc vùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội. Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế – vua Bảo Đại thoái vị. Sáng 24-8-1945, đoàn quân khởi nghĩa Càng Long hàng mấy ngàn người vũ trang gậy gộc, giáo mác, tầm vông, ná lãi với đội ngũ tề chỉnh theo từng xã lên đường vào thị xã Trà Vinh để cùng tỉnh và các quận giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Ngày 25-8-1945, lực lượng biểu tình trên hai vạn người hàng ngũ chỉnh tề kéo tới dinh quận Càng Long. Với khí thế cách mạng sục sôi của hàng vạn người khởi nghĩa đã xông vào bót Con Cò gọi hàng lính quận, thu vũ khí; ập vào dinh quận, bắt phủ Phước, gọi hàng toàn bộ nhân viên ngụy quyền. Ủy ban khởi nghĩa quận tuyên bố xóa bỏ chính quyền thân Nhật, thành lập Ủy ban Cách mạng lâm thời quận Càng Long giữa rừng cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm, trong tiếng hô vang như sấm dậy các khẩu hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập Chính quyền về tay Việt Minh - Chính quyền về tay nhân dân. Đả đảo thực dân phát xít Nhật - Pháp”. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.418. The rom neu do tên YêTa thu 10 khẩu, trong đó có 2 súng mút, 8 súng săn hai nòng. 3. Gồm có Huỳnh Văn Ngò, Nguyễn Kim Tiền, Nguyễn Văn Chốn, Nguyễn Kiến Nghĩa, Lê Văn Mười, Bùi Văn Nguy... Ngày 26-8-1945, Ủy ban Cách mạng lâm thời các xã được thành lập. Cách mạng thành công trên quê hương Càng Long. Như vậy, khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ Trương Đảng dự kiến thời cơ thắng lợi của cách mạng đã có : chỉ đạo chuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc bạo động khi thời cơ đến. Đảng bộ và nhân dân Càng Long đã tích cực chuẩn bị lực lượng và có kế hoạch để tiến lên khởi nghĩa. Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra với khí thế mạnh mẽ, quy mô rộng lớn, làm rung chuyển cả một vùng nông thôn nhưng không phát triển được. Càng Long và Trà Vinh không tiến hành khởi nghĩa vì không được lệnh, nhưng vẫn chịu tổn thất, khó khăn khi thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng. Nhờ cơ sở liên minh công nông vững chắc, Đảng bộ Càng Long vẫn tồn tại, bám sát nhân dân, sớm vực lại phong trào khi có sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và chủ trương của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tới Nam Kỳ. Nhật - Pháp bắn nhau, cao trào kháng Nhật cứu nước được Ban Thường vụ Trung ương Đảng phát động. Cùng với việc củng cố tăng cường tổ chức của Đảng, Đảng bộ quận Càng Long đã sử dụng thế công khai hợp pháp của Thanh niên Tiền phong để cổ vũ phong trào làm cho lực lượng cách mạng lớn mạnh vượt bậc. Đến khi Hội nghị Toàn quốc của Đảng phát động tổng khởi nghĩa, Đảng bộ và nhân dân Càng Long đã vùng dậy với sức quật khởi chưa từng có giành chính quyền về tay nhân dân. Sau 80 năm nô lệ, nhân dân Càng Long cùng cả tỉnh, cả nước, đứng lên làm chủ vận mệnh mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn