Bài viết

Càng Long xây dựng hệ thống chính trị, khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu xây dựng cuộc sống mới tại địa phương

Vĩnh Long14/11/2025Lịch sử Càng Long giai đoạn 1930 - 2010 (ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH XÃ CÀNG LONG)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Xây dựng hệ thống chính trị, khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu xây dựng cuộc sống mới tại địa phương

Tháng 2-1976, Trà Vinh và Vĩnh Long hợp nhất thành tỉnh Cửu Long, huyện Càng Long bấy giờ trực thuộc tỉnh Cửu Long.

Ngày 25-4-1976, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (1976-1981), cử tri Càng Long được Huyện ủy tuyên truyền mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc bầu cử; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể sát với tình hình thực tế từng ấp. “Về tuyên truyền phát động trong nội bộ, tổ chức gần 200 cuộc, gần 1.000 lượt người, trong đó có hàng trăm đồng chí là Xã ủy viên, đảng viên, đoàn viên thanh lao; hàng ngàn Nông hội, Thanh niên giải phóng, Phụ nữ giải phóng. Phát động ngoài quần chúng 400 cuộc, trên 67 ngàn lượt người dự, trong đó có 27.000 nữ, trên 9.500 người Khmer. Nhiều hình thức cổ động diễn ra lúc này như họp míttinh, Đại hội quần chúng diễn ra sôi nổi cùng với những băngrôn, ápphích, cờ... tạo không khí phấn khởi trong nhân dân hướng đến ngày hội lớn của non sông đất nước. Vào bầu cử, cơ sở đoàn thể làm nòng cốt hướng dẫn cử tri đi bầu, toàn huyện có 40.973 cử tri. Số cử tri đi bầu 40.971, đạt tỷ lệ 99,99%, góp phần xây dựng Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất”1.

Ngày 25-5-1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố toàn bộ chính sách đối với những người làm việc trong ngụy quân, ngụy quyền và các đảng phái, tổ chức chính trị của chế độ cũ. Chính sách này, ngoài việc khẳng định những điều đã công bố từ trước còn nêu cụ thể những điều đã quy định khôi phục quyền công dân...

Tiếp theo, ngày 15-7-1976 Nghị quyết 254-NQ/TW của Bộ Chính trị về những công tác trước mắt ở miền Nam. Nghị quyết đánh giá thực hiện Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương và đề ra 5 nhiệm vụ trước mắt phải tập trung hết năm 1977. Đó là: “Nhanh chóng củng cố hệ thống chính quyền nhân dân các cấp”, đẩy mạnh khôi phục và phát triển sản xuất; xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản, xóa bỏ tàn dư của giai cấp địa chủ phong kiến. Tiến hành từng bước cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, chuẩn bị điều kiện để cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ. Kết hợp chặt chẽ cải tạo và xây dựng để đưa toàn bộ kinh tế miền Nam tiến lên theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa... Tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hóa; Cải tiến tổ chức, kiện toàn bộ máy xây dựng cấp huyện, và nhấn mạnh: “Cải tạo xã hội chủ nghĩa là cải tạo toàn bộ nền kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tổ chức lại nền sản xuất xã hội1.

Sau đó, Càng Long tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện. Ủy ban nhân dân huyện Càng Long được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Đang (Tám Cồ) làm Chủ tịch. Ủy ban nhân dân các xã đi vào hoạt động làm công tác quản lý địa bàn. Trong công tác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngành Công an làm tham mưu cho cấp ủy và chính quyền huyện ngăn chặn bạo loạn năm 1976. Sau các ngành trong khối Đảng, khối nội chính được thành lập, các phòng Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Tài chính, Lương thực, Thủy lợi, Giáo dục, Y tế, Văn hóa, Thương binh - Xã hội... được củng cố bộ máy, mỗi phòng có một Trưởng phòng và hai Phó phòng. Sau khi ổn định hệ thống tổ chức chính trị, Đảng bộ huyện Càng Long tập trung lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, an ninh - quốc phòng.

Về kinh tế

Trong nông nghiệp, Đảng bộ huyện tập trung đưa nhân dân trở lại sinh sống trên quê hương, mảnh đất của gia đình mình. Chủ trương khai hoang phục hóa của Đảng bộ, ở cánh A, cải tạo đồng ruộng gắn liền với đào kênh xả phèn; cánh B: cải tạo ruộng vườn gắn liền với đắp đập ngăn mặn. Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện, xã tuyên truyền trong dân vấn đề làm thủy lợi để cải tạo đất đai.

Công tác thủy lợi luôn được xem là biện pháp hàng đầu trong khắc phục hậu quả chiến tranh và sản xuất nông nghiệp nên nhiều công trình thủy lợi lớn được tiến hành triển khai thực hiện. Hàng loạt con kênh lớn nhỏ làm bằng sức người được nạo vét, mở rộng và đào mới như kênh Trà Ngoa, 19-5, Tuổi Trẻ, Tổng Tồn,... đồng thời tiến hành đắp bờ bao các xã và cánh đồng cao sản. Tháng 6-1975, Huyện ủy chủ trương đắp nhiều con đập lớn, tổng số trên dưới 20 đập nhưng chỉ huy động lực lượng làm bằng tay. Nổi bật là đập Giồng Chùa (đắp lần đầu tiên bị thất bại, vỡ đập. Sau đó, Ban Chấp hành Huyện ủy họp, hạ quyết tâm đắp lần thứ hai mới thành công. Đây là đập lớn nhất của xã, nhân dân đóng góp cây cối, chùa Pysey Vararam hiến hàng chục cây sao, dầu),... Đây là chủ trương rất đúng đắn. Nhờ các công trình này mới ngăn được nước lũ, giữ được khô, không còn bưng biền, đất ruộng mới cày ải được1. Lúc này ở huyện ngoài huy động trên 9.500 người thi công kênh Trà Ngoa (địa bàn Càng Long), 10.000 người làm công trường đắp đập Bến Giá và 8.000 lực lượng làm nông trường dừa (địa bàn Duyên Hải), còn tập trung tuyên truyền vận động nhân dân về lợi ích của đào kênh, đắp đập. Cánh A gồm An Trường, Tân An, Mỹ Cẩm, Huyền Hội, một phần của xã Bình Phú, Phương Thạnh phải khai thông các kênh mương dẫn nước vào ruộng để trồng lúa, bảo đảm cuộc sống hằng ngày. Cánh B gồm Nhị Long, Đức Mỹ, Đại Phước và một phần xã Phương Thạnh, Bình Phú, đất đai sình lầy tới bụng, cỏ cao tới đầu, nước mặn thâm nhập cần phải đắp đập, dẫn nước để ngăn mặn, cải tạo một vùng đất bị ô nhiễm nặng, khô hạn. Lực lượng làm công tác thủy lợi ở Càng Long được phân công từ 18 đến 45 tuổi đi làm công trình tỉnh, từ 46 tuổi trở lên làm thủy lợi nội đồng. Tiếng loa phóng thanh vang lên từng ấp trong huyện: 36.500 lượt người thi công nhiều đợt các công trình tỉnh, 5.000 lao động đắp đập Chú Dần, xã Huyền Hội (đập này, huyện đã huy động công nhân viên chức huyện tham gia, trong đó có cán bộ Trường Đảng) mặt đập kênh Đùng Đình, đập Dừa Đỏ I (Nhị Long), 6.000 lượt người làm thủy lợi nội đồng theo từng nhóm, từng cụm để khắc phục ngay kênh mương thoát nước bị cạn, đất đai nhiễm phèn, nhiễm mặn, hạn chế lúa bị thiệt hại do “tiêm lụn”, “đọt sần”. Năm 1976, phong trào làm thủy lợi được dấy lên sôi nổi, hàng ngàn lượt người tham gia đào kênh mới, nạo vét kênh cũ, đắp bờ vùng, bờ thửa, đắp đập, làm cống, bọng, phát triển hệ thống thủy lợi nội đồng, phục vụ trực tiếp cho sản xuất. Các bờ kênh, bờ bao khi đã khô cứng, tỉnh, huyện, xã sẽ xây dựng tỉnh lộ, hương lộ, những tuyến đường liên xã. Cho nên ở huyện Càng Long trong giai đoạn này người ta gọi những mặt công tác trên là công tác “giao thông thủy lợi”. Tháng 2-1976, Huyện ủy Càng Long đề ra chủ trương “dẫn thủy nhập điền”. Nhân dân các xã Phương Thạnh, Huyền Hội, Bình Phú rất phấn khởi. Đảng ủy xã Phương Thạnh huy động gần 600 người thực hiện đào một con kênh nối liền với các xã Bình Phú, Huyền Hội. Con kênh này có chiều dài 9,2km, chiều ngang rộng 3m. Ở xã Nhị Long, Đảng ủy xã lãnh đạo nhân dân bắt tay san lấp hàng ngàn hố bom, cải tạo đất đai hoang hóa năng suất thấp, cải tạo giao thông thủy lợi (đường bộ ở xã gần như không có, nơi nào có đường là đường nhỏ, sình lầy, muốn đi đâu phải đi bằng đường thủy, bơi xuồng). Đầu năm 1976, Đảng bộ xã Nhị Long (nay là Nhị Long và Nhị Long Phú) đã huy động hàng ngàn lượt người dân đào đắp tuyến bờ bao từ xã đến ấp Long An với 13/15 ấp chiều dài 20km (theo quy cách chân 5m, mặt 3m, cao 1m) với khối lượng hàng trăm ngàn mét khối đất giao khoán cho hộ dân quản lý, bảo trì hằng năm. Ở xã An Trường trong thời gian này nạo vét lại một số con sông lấy nước ngọt, đắp tất cả các đập trong đó có đập Ba Huỳnh, bồi đắp các đê bao quanh xã. Xã Mỹ Cẩm vận động nông dân ra đồng cải tạo số đất đai hoang hóa và tiếp tục sản xuất trên những cánh đồng thời kháng chiến đang canh tác. Tại xã Huyền Hội, Nguyễn Văn Tiết (Hai Tiết) Bí thư xã, vận động nông dân 9/9 ấp ra đồng dọn cỏ, đắp bờ “cơm nếp” (bờ nhỏ) đào mương xổ phèn cấy lúa. Nhiều tuyến kênh: Kênh cấp I, II và III đã hoàn chỉnh, điển hình từng khu vực như: Ấp Ninh Bình có các kênh Tư Xét, kênh Ba Mật, bờ bao Bưng Dứa dẫn nước về các nơi. Cánh đồng gò ấp An Chánh, An Thạnh, bảo đảm đủ nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Thực hiện nạo vét, đào được những con kênh này là nhờ khí thế chiến thắng sau giải phóng, tinh thần người dân hết lòng vì cách mạng. Gia đình Ba Quang ở ấp Nhà Thờ đào con kênh Bà Bảy Phần, hiến 22 công đất ruộng; gia đình chị Thay, ấp Cả Chương, khi đào con kênh 63, kênh đi qua 7 - 8 công đất phần đất của gia đình vẫn vui vẻ hiến đất cho Nhà nước. Ở các xã Bình Phú, Đức Mỹ, Đại Phước, Bí thư, Chủ tịch huyện, Huyện ủy viên và các cán bộ cấp ủy, chính quyền, đoàn thể xã vận động nhân dân vỡ đất hoang, thi công các công trình thủy lợi tỉnh gắn với việc đắp đập ngăn nước mặn, giữ ngọt, xổ phèn cải tạo đất. Thực hiện các công trình thủy lợi trên, ngoài lực lượng thi công, còn có hàng trăm người đóng góp tiền mua gạo, thức ăn, hỗ trợ cho người khó khăn trong cuộc sống. Không còn lo trước lo sau, khi đến công trường, họ mới tập trung vào công việc. Ngoài ra ở cánh B còn rất nhiều người hiến đất, đóng xuồng, đóng xe bò phục vụ cho việc đắp đập hoàn thành đúng thời gian huyện, xã đã định. Có thể nói, công tác làm thủy lợi cải tạo đất đai là một trong những công tác mà Đảng bộ huyện Càng Long tập trung chỉ đạo được nhân dân hưởng ứng tích cực. Đây là một việc làm có ý nghĩa rất lớn sau giải phóng.

Ngoài cải tạo đất đai đồng ruộng nhân dân còn cải tạo vườn. Tại xã Bình Phú, Đảng ủy vận động nhân dân trong xã làm tuyến bờ bao ấp Phú Phong I, Phú Hưng I, Phú Hưng II có chiều dài 6,2km và phát hoang vườn ở ấp Long Trị. Tại xã Đức Mỹ, Đảng ủy vận động nhân dân 5/7 ấp khôi phục vườn tược bị hư hại do bom đạn Mỹ cày xới. Một số ấp trước đây trồng được lúa, xã vận động nông dân chuyển trồng lúa ngắn ngày từ tháng 11 năm trước đến tháng Ba, tháng Tư âm lịch năm sau, gọi là vụ xuân - hè. Hết vụ, trồng khoai, bắp, rau màu, trồng cây lác để dệt chiếu đổi gạo ăn. Ở xã Đại Phước, ngoài việc vườn ruộng bị hoang hóa thì vào tháng 9, tháng 10 nước dâng lên tràn vào các ấp trong xã, lúa bị nhiễm mặn, đọt sần, người dân “có làm mà không có ăn” nên cần cải tạo đất đai, ngăn mặn giữ ngọt cho nông dân sống được với nghề nông. Hai tháng sau giải phóng, xã tập hợp các “kiện tướng” lao động là những “lão nông tri điền” như: Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Qúy (Ba Lên), Võ Văn Hầu, Nguyễn Văn Nhứt, Bùi Văn Bỉ, Võ Văn Dừa... hiến kế đắp các đập, sau đó Đảng ủy lãnh đạo cả trăm người, học cách xốc cừ chông một chùm ba cây như bánh ú, cách làm sườn, xuống đất, đắp trên dưới 20 đập đạt kết quả tốt. Bên cạnh đó, Đảng ủy còn lãnh đạo nhân dân lấp hố bom để tạo mặt đất bằng phẳng phục vụ sản xuất. Đắp đập ở cánh B thực hiện trong thời điểm này là ngăn mặn để canh tác lúa. Và cũng để cho những cánh đồng lúa lớn ở cánh A (nhất là xã An Trường) không bị nước mặn xâm nhập, ở xã Tân An, nông dân ra đồng dọn cỏ, ráng và lức làm ruộng cấy lúa.

Về thương nghiệp, năm 1976, ngành thương nghiệp hình thành và xây dựng hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đồng thời với việc tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Bước đi đầu tiên của quá trình xây dựng nền thương nghiệp xã hội chủ nghĩa là tiến hành sắp xếp một bước về trật tự mua bán trên thị trường, chuyển phần lớn tư bản thương nghiệp sang sản xuất. Các hộ kinh doanh nhỏ được tiếp tục kinh doanh dưới sự kiểm soát của Nhà nước trong cơ chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, góp phần ổn định thị trường, làm nền tảng cho công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất.

Về văn hóa thông tin, Ban Văn hóa thông tin huyện được tách ra từ Ban tuyên giáo có nhiệm vụ tuyên truyền. Ban đã thành lập 2 đội thông tin lưu động phối hợp với Ban Văn hóa thông tin các xã để phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của cách mạng. Sau khi thành lập Ban Văn hóa thông tin huyện, 10/10 xã của huyện có trạm truyền thanh. Ban Văn hóa huyện có 1 chiếc xe Jeep cho đội thông tin lưu động huyện đi xuống các xã, ấp tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Công tác tuyên truyền cổ động của ngành văn hóa thông tin gắn với phát động phong trào quần chúng của Mặt trận và các đoàn thể nhằm tập hợp các tầng lớp nhân dân vào tổ chức cách mạng như Nông dân giải phóng, Phụ nữ giải phóng, Thanh niên giải phóng...

Về giáo dục, Huyện ủy có chủ trương giữ nguyên vẹn cơ sở vật chất các điểm trường, duy trì các trường lớp vùng giải phóng và vùng mới giải phóng, giáo dục đội ngũ giáo viên cũ về đường lối, tình hình nhiệm vụ mới. Tiến hành phân loại, trưng dụng giáo viên. Có 220 giáo viên được lưu dụng, cộng với 120 giáo viên, nâng tổng số lên 340 cán bộ, giáo viên. Năm học đầu tiên sau giải phóng có 2.500 học sinh. Về xóa nạn mù chữ trong nhân dân, huyện đưa giáo viên phổ thông và đội ngũ giáo viên đào tạo cấp tốc đến từng ấp, xóm mở các lớp bình dân học vụ. Toàn huyện có trên 100 ấp, ấp nào cũng dồn lực cho xóa mù chữ. Mỗi ấp mở ra từ năm đến bảy điểm dạy học, có ấp mở một hai điểm, một điểm chừng 60 đến 70 học viên. Địa điểm của lớp bình dân là mượn nhà dân. Thời gian học được quy định là học ban đêm, giáo viên hết giờ dạy phổ thông, tối đến đi dạy bình dân, và để học viên ban ngày lao động sản xuất xong mới an tâm lo việc học hành. Những học viên có đèn đem đến lớp học thì ban tổ chức lớp cấp dầu hỏa một lít trong một tháng thắp sáng cho từng nhóm năm - ba người học. Học viên nào đến lớp muộn thì Trưởng ban giáo dục bơi xuồng (cánh B), đi bộ (cánh A) phát loa gọi đến lớp học. Tại xã Phương Thạnh lúc này có nhiều người dân ấp Giồng Chùa cùng chính quyền làm công tác tuyên truyền học bình dân, điển hình như bà Kim Thị Suôl, Huỳnh Thị Lan, Thạch Yên, vợ chồng thầy Sơn Ngọc Huyền. Khi tan học, ánh đèn lấp lánh trên đường quê trông rất vui. Đặc biệt lúc dầu thắp sáng, dầu quá khan hiếm, có một vài nơi đốt đèn “dầu mù u” giúp cho lớp học không bị gián đoạn. Kết quả là Càng Long đã diệt giặc dốt một cách nhanh nhất. Tháng 4-1977, 4.000 người dưới 40 tuổi đã thoát dốt. Huyện thành lập Hội đồng giáo dục thực hiện 2 nhiệm vụ giáo dục phổ thông và bổ túc văn hóa. Lớp bổ túc văn hóa mở ra: bổ túc văn hóa cấp I với đối tượng học là cán bộ xã, dân chính ấp, thanh niên nam nữ. Ngoài ra, huyện còn mở lớp bổ túc văn hóa cho cán bộ chủ chốt.

Về y tế, Phòng Y tế huyện thành lập ngay sau khi tiếp quản Chi Y tế của chế độ cũ. Năm đầu hoạt động, y tế có 1 Trưởng phòng, 1 Phó phòng. Các phòng ban gồm: Phòng cấp cứu, Phòng khám bệnh, Phòng sinh, Phòng bốc thuốc Nam, Cửa hàng bán thuốc tây, Đội vệ sinh phòng dịch, khoa nha. Các trạm y tế của ta đã tổ chức trong chiến tranh, củng cố lại hoạt động bình thường dưới sự chỉ đạo của Phòng Y tế huyện. Mỗi trạm y tế có từ 5 - 7 y tá, cứu thương, hộ sinh. Riêng Trạm y tế xã Đức Mỹ có một tủ thuốc Nam do một Nam y phụ trách. Năm 1976 do cán bộ y tế thiếu, huyện tổ chức mở hai lớp y tá, một lớp ở ấp số 9 Mỹ Cẩm, một lớp ở chùa Cai Hảo cho 45 người; tất cả đều tập trung học tốt. Các cán bộ khi ra trường được huyện bố trí về các trạm y tế xã trong huyện.
Hoạt động truyền thống: Năm 1976, Đảng bộ huyện có 5 đơn vị được Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là: An Trường, Huyền Hội, Bình Phú, Nhị Long và xã Mỹ Cẩm. Bên cạnh đó Đảng bộ cũng quan tâm công tác đào tạo cán bộ, đã cung cấp nhiều cán bộ cho tỉnh và Trung ương. Lúc này việc xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện, xã đã cơ bản hoàn thành, tiếp thu và thực hiện nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân lao động làm chủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn