Bài viết

CANH BẠC Ở ĐÔNG DƯƠNG

Ninh Bình16/04/2026NGUYỄN VĂN HƯỞNG (TRƯỜNG TIỂU HỌC NINH GIANG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bấy giờ là giờ nghỉ trưa ở Hà Nội. Trước mắt chúng tôi, từ ban công phòng tôi nhìn xuống, thành phố đang say giấc. Thanh âm vang xa xuyên qua hơi nóng buổi trưa hầm hập. Tôi và vị khách cùng dùng bữa trưa dõi theo một người bán canh người Hoa, đầu đội một chiếc nón rơm to, mặc áo rách và quần đùi ngắn ngủn, đang gõ cái que rỗng của ông ta vào một khối gỗ kêu lách cách để rao hàng. Trên vỉa hè vắng tanh chỉ có một ốc đảo sinh động duy nhất bao gồm năm chú bé bán báo người Việt ăn mặc rách rưới và lem luốc. Chúng quỳ trên vỉa hè, chống tay xuống đất xem một đứa trong bọn xóc ba hột xí ngầu trong một chiếc bát ăn cơm. Một giây sau thằng bé gieo xí ngầu hô “tài”, và đưa tay ra vơ hết mớ tiền giấy một quan bẩn thỉu.

Vị khách của tôi là người đứng đầu một nhóm trí thức dân tộc chủ nghĩa còn đang lưỡng lự về việc ủng hộ Hoàng đế Bảo Đại chống lại phe cộng sản. Ông mỉm cười nhìn xuống phía bọn trẻ – “Cũng như hầu hết các dân tộc khác ở châu Á, chúng tôi là những con bạc kinh niên. Ngoại trừ trong chính trị”, ông thận trọng nói thêm, “về mặt này thì chúng tôi thích những gì chắc chắn”.

Nhận xét thẳng thắn đó – cùng với cảnh tượng ngái ngủ trước mắt chúng tôi – là phát biểu đại diện cho hầu hết Đông Dương. Với phần lớn trong số 23 triệu dân của quốc gia này, cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản là một ván tài xỉu lớn – và họ muốn biết nước nào trong số hai siêu cường thế giới sẽ là tài (lớn)trước khi đặt cược. Bởi lẽ nhiều người đang chơi đùa với ảo tưởng đáng sợ rằng một người dân tộc chủ nghĩa thực thụ có thể hi vọng giành thắng lợi bằng cách đặt cược vào chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, nếu chủ nghĩa ấy có khả năng trở thành Ông Lớn. Thế nên nhận định của vị khách nhà tôi đã chứa đựng chính lời khuyên sáng suốt nhất dành cho phương Tây ngày nay: cách duy nhất chắc chắn để giành thắng lợi trong trận chiến đặc biệt này là chứng minh thật quả quyết rằng ta không có ý định để thua.

Tư lệnh của Pháp ở Đông Dương là Tướng Carpentier, một quân nhân kì cựu của các chiến dịch tại Phi châu.

Ở đây thực sự có ba trận chiến trong một. Thứ nhất là trận chiến chống lại các lực lượng cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Thứ hai là trận chiến đang được sửa soạn, một cuộc xâm lăng được tiếp tay hoặc thậm chí là dẫn dắt bởi các quân đoàn đỏ của Trung Hoa. Trận chiến thứ ba, cấp bách và phức tạp, là trận chiến chính trị, và phương Tây cần giành thắng lợi ở mặt trận này nếu muốn có được một chiến thắng chung cuộc có ý nghĩa và chắc chắn.

Có một lí do thuyết phục để tin rằng chúng ta có thể thắng trận chiến thứ nhất và tránh được trận chiến thứ hai. Lí do duy nhất đó chính là quân đoàn viễn chinh Pháp.

Cách hành xử thực dân của Pháp ở Đông Dương đã bị chỉ trích thậm tệ trong quá khứ. Phần lớn những chỉ trích đó hoàn toàn có cơ sở khi ấy, và một số vẫn còn xác đáng tới bây giờ. Tuy nhiên thực tế đầu tiên về đời sống chính trị ở Đông Dương ngày nay là chỉ có duy nhất quân đội Pháp đang giữ cho Đông Dương không rơi vào tay cộng sản. Điều đó đồng nghĩa với việc nó là lá chắn vững chắc duy nhất cho các chính phủ yếu ớt của Burma, Thái Lan và Indonesia. Thực tế này, theo đó, cũng đánh dấu Đông Dương như là biên giới quan trọng duy nhất giữa chủ nghĩa cộng sản và các cửa ngõ của Ấn Độ – nơi mà chủ nghĩa yêu chuộng hòa bình viển vông có thể dễ dàng phát triển thành một thứ gì đó tồi tệ hơn rất nhiều nếu có áp lực đủ cứng rắn từ phe Đỏ.

Trong bối cảnh này, câu hỏi lớn chính là: lực lượng của Pháp vững mạnh đến đâu? Lực lượng này bao gồm một phần tư quân lực hải quân Pháp, hơn một nửa quân số không quân và 150.000 bộ binh, bao gồm các sĩ quan chuyên nghiệp và binh lính thiện chiến nhất. 150.000 người lính này kiên dũng và có năng lực, và tôi nhận thấy tinh thần chiến đấu của họ cao một cách đáng ngạc nhiên – đặc biệt là nếu tính đến khí hậu khắc nghiệt, địa hình gồ ghề và nỗi căng thẳng phải vật lộn với kẻ thù luôn không ngừng tránh né giao chiến trực diện.

Lấy ví dụ René Dupuis, cậu kĩ sư 25 tuổi đã lái xe chở tôi từ Lạng Sơn đến pháo đài ở Đồng Đăng, trên biên giới đông bắc Việt Nam. Chàng trai Paris hớn hở này đã đi gần đến ngày cuối của nhiệm kì phục vụ tự nguyện trong quân đội, nhưng anh sẽ đăng kí tại ngũ thêm ba năm nữa. Vì sao? “Tôi thích ở đây”, Dupuis giải thích. “Tôi được phiêu lưu, tôi thấy mình có ích, tôi khá thích người Việt, và tôi đang học một nghề để sau này khi giải ngũ có thể dùng kiếm sống”.

Khẩu súng trường được René đặt tựa vào ghế bên cạnh. Suốt dọc đường, cứ cách khoảng một dặm lại có một công sự bằng gạch và tre của Pháp trấn giữ vùng đồng quê. Giữa các công sự này, chúng tôi đi ngang qua các toán lính đi tuần gồm bốn hay năm người để râu, mặc đồng phục màu xanh rừng nhiệt đới, đội nón dạ bèo nhèo có vành rộng, đi rồng rắn theo hàng một dọc các triền đồi. Dù đã có những toán tuần tra này, Dupuis vẫn cẩn thận quan sát các bụi cây thấp. “Con đường này được canh giữ cẩn thận”, anh nhận xét, “nhưng không bao giờ biết chắc được. Chính lúc anh ít ngờ tới nhất thì họ tấn công Họ trườn ra khỏi những bụi cây với lựu đạn hoặc một khẩu súng máy trong tay – pằng pằng pằng pằng – rồi họ biến đi lẹ như mấy con thỏ rừng trước khi đội tuần tra kịp trờ tới. Nếu họ bắt được anh thì còn tệ hơn”. Anh thuật lại chi tiết cho tôi hai phương pháp máu me khủng khiếp mà Việt Minh thường dùng để thanh toán tù binh Pháp.

Chúng tôi tới được pháo đài ở Đồng Đăng, đứng trên một ngọn đồi đá phấn cách biên giới Trung Quốc vài trăm mét. Từ tháp canh của pháo đài, tôi có thể thấy ánh mặt trời phản chiếu lấp lánh trên các khẩu đội pháo phòng không của cộng sản ở Ải Nam Quan, một vùng thung lũng mà qua đó quân xâm lược từ Trung Hoa trong nhiều thập kỉ đã tiến công vào miền Bắc Việt Nam.

Lính mộ[1], lính Đức và quân đoàn lê dương[2]

Lính mộ từ Phi Châu và quân đoàn lê dương Pháp canh giữ tiền đồn này. Những người lính mộ để râu quai nón, mang mề đay, với ánh mắt hung tợn, là những chiến binh chuyên đánh giáp lá cà dữ dằn mà sự quả cảm về thể chất của họ là không có giới hạn. Rất nhiều binh sĩ trong quân đoàn lê dương là người Đức – những người đàn ông tóc vàng săn chắc, ương ngạnh, đội mũ kepi trắng. Nhét lựu đạn đầy túi, họ mang súng tiểu liên choàng qua vai và di chuyển chậm rãi, thận trọng. Trong bọn họ có những cựu binh thuộc Quân đoàn Phi Châu[3] của Rommel và cả những người từng tham gia chiến dịch ở Nga. Tôi hỏi Dupuis về thái độ của anh với họ. “Không thể chịu nổi bọn họ”, anh trả lời ngay. “Chẳng ai trong chúng tôi chịu được. Nhưng họ hòa hợp ổn thỏa với các sĩ quan Pháp của họ. Họ chẳng có chút cảm xúc nào về nước Pháp hay về dân chủ cả, nhưng họ có tinh thần quân lê dương, và kiêu ngạo một cách gớm ghiếc về điều đó”.

Để tăng cường lực lượng đề phòng một cuộc xâm lăng, 70.000 quân Pháp đã được điều động ra khu vực miền Bắc này, trong khi 80.000 người còn lại ở Trung và Nam Bộ đang bị các lực lượng quân chính quy và du kích của Hồ Chí Minh cầm chân. Việt Nam (nghĩa là miền đất ở phương nam, tức phía nam Trung Quốc) có hình dáng như gánh nặng mà hàng triệu người dân chân trần của nó gồng gánh trên vai suốt những con đường mù bụi: đôi quang lớn ở hai đầu một đòn gánh mỏng. Một quang là Bắc Kì của Việt Nam (mà người Pháp gọi là Tonkin), quang kia là Nam Kì (mà người Pháp gọi là Cochinchine). Trên dải đất Trung Kì mỏng manh (mà người Pháp gọi là Annam), những dãy núi trập trùng từng đợt như sóng xuống gần tới bờ biển. Mặc dù các lực lượng của Hồ Chí Minh đe dọa các vùng đồng bằng ven biển, phía Pháp giữ vững thủ phủ của khu vực này là Huế và thành phố Đà Lạt tráng lệ. Ở miền Nam, hoạt động của cộng sản gây khó khăn cho đời sống cư dân đông đúc ở vùng đô thành Sài Gòn, và Việt Minh (nghĩa là ánh sáng của đất Việt, tên của đảng nổi dậy)[4] lảng vảng trong các vùng đầm lầy nằm giữa vô số nhánh của dòng sông Mekong. Ở phía Tây Bắc và Tây Nam, cũng như trên lãnh thổ hai vương quốc tương đối ít quan trọng là Lào và Campuchia, tình hình khá yên ắng.

Tướng Marcel Carpentier là tổng tư lệnh quân Pháp. Ông là một sĩ quan cục mịch đã xây dựng sự nghiệp ở châu Phi, và đang áp dụng một chiến lược phỏng theo “Maroc hữu dụng”[5] của Thống chế Lyautey. “Đông Dương hữu dụng” bao gồm các khu vực trù phú và đông dân cư ở hai vùng đồng bằng sông Mekong và sông Hồng, các đô thị và cảng biển chính (Sài Gòn, Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Phnom Penh, Luangprabang) và các tiền đồn chiến lược trên biên giới phía Bắc: Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Mặc dù tổng diện tích lãnh thổ mà Hồ Chí Minh làm chủ hoặc đe dọa lớn hơn tổng diện tích mà Pháp nắm chắc, có lẽ khoảng 15 triệu trong tổng số 23 triệu dân Đông Dương sinh sống trong vùng Pháp kiểm soát.

Phân bố quyền lực được thể hiện bằng các vùng tô đậm (màu đen: Việt Minh kiểm soát; màu xám: vùng tranh chấp; màu xám nhạt: Pháp kiểm soát). Cộng sản Trung Quốc có thể xâm lược Việt Nam thông qua các tỉnh Vân Nam hoặc Quảng Tây.

Chiến lược của Carpentier là chiến lược thận trọng có cân nhắc. Một số nhà quan sát tin rằng nếu ông dồn lực đánh lớn thì có thể đập tan lực lượng Việt Minh. Nhưng Carpentier cho rằng vai trò chính của quân đội Pháp giờ đây là bảo vệ biên giới phía Bắc khỏi âm mưu xâm lược của Trung Hoa, và công cuộc bình định phần còn lại của đất nước nên được dành lại cho đến khi nào quân đội quốc gia Việt Nam có thể nhận lãnh trách nhiệm này. Phe cộng sản hiện có một đội quân chính quy lên đến 80.000 binh sĩ cộng thêm khoảng 100.000 quân du kích được tổ chức thành các nhóm nhỏ. Một nửa số quân chính quy tập trung trong một khu vực hình tam giác gồm các vùng đồi núi phía bắc của miền Bắc, nơi họ có các đường dây liên lạc không bị ngắt quãng với các lực lượng của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc.

Tại các hội nghị nhân sự của Pháp, các suy đoán về đường đi nước bước sắp tới của Mao cũng phong phú như số quán bar lấp lánh ánh đèn neon ở đô thị Sài Gòn. Một sự thật chắc chắn: các hoạt động cấu kết giữa cộng sản Trung Quốc với Việt Minh đang gia tăng mặc dù vẫn chưa có viện trợ trên quy mô lớn. Trong nhiều tháng liền, vũ khí và đạn dược từ Trung Quốc đã chảy qua những con đường mòn chạy như mê cung trên vùng núi biên giới giữa Trung Quốc và Đông Dương. Các tiểu đoàn quân chính quy của Việt Minh giờ đây có hỏa lực mạnh tương đương với đối phương. Các khẩu đội pháo phòng không đã xuất hiện lần đầu tiên và các máy bay ném bom Junker chậm chạp mà quân Pháp vẫn còn sử dụng được chào đón ngày càng “nồng nhiệt”.

Liên minh giữa Trung Quốc cộng sản và Hồ Chí Minh đã không còn là chuyện tới đâu hay đó. Các cố vấn Liên Xô đã tới tổng hành dinh trong rừng sâu của Hồ Chí Minh. Đồng hành với Việt Minh trong vùng tam giác miền núi phía Bắc là khoảng 300 cố vấn kĩ thuật Trung Quốc. Những chỉ thị tâm lí sâu sắc được đưa ra cho các sĩ quan liên lạc ở cả hai phía, gợi nhớ đến các mệnh lệnh mà Eisenhower thường đưa ra cho cấp dưới về việc xây dựng quan hệ tốt đẹp với người Anh. Ban đầu Việt Minh phải mua chuộc viện trợ của Trung Quốc. Bây giờ thì viện trợ được Trung Quốc trao cho Việt Minh. Chính quyền Trung Quốc đã thành lập ba doanh trại trên lãnh thổ nước mình – một ở Vân Nam, phía bắc Lào Cai, và hai ở Quảng Tây, phía trên Cao Bằng và Móng Cái – dành cho quân đội Việt Minh. Tại ba doanh trại này, khoảng 10.000 đến 30.000 binh sĩ người Việt đã được đào tạo, trang bị vũ khí và sử dụng để chiến đấu chống lại quân du kích Quốc dân Đảng Trung Hoa.

Không nên nhầm lẫn về chất lượng lực lượng chính quy của cộng sản. Trong năm năm chiến đấu, họ đã học được nhiều từ quân Pháp. Họ có tinh thần bất khuất và tính kỉ luật cao. Tôi được nghe một câu chuyện bộc lộ nhiều về họ từ một viên cai đội người Pháp vừa mới trở về từ các vùng đầm lầy miền Nam như sau:

“Đám người giỏi lẩn như chạch đó thỉnh thoảng nhảy xuống sông rồi không thấy tăm hơi họ đâu nữa. Họ bơi xuyên qua các đường hầm hang hốc ăn sâu vào bờ sông rồi trồi lên từ những vũng lầy cách chỗ họ nhảy xuống cả năm bảy chục mét. Họ trốn dưới nước, thở bằng các đọt tre. Một trong những mệnh lệnh nghiêm khắc nhất của họ là không bao giờ được để bị bắt giữ khi mang vũ khí tự động. Mới hôm kia tôi đột kích một người Việt cầm súng máy sau khi anh ta đã bắn hết đạn. Tôi bắn và chắc chắn là đã bắn trúng. Rồi anh ta vừa bỏ chạy vừa tháo tung khẩu súng của mình ra và ném từng mảnh sang hai bên. Cuối cùng đến khi anh ta gục ngã, tôi thấy trên người anh ta găm tới bốn phát đạn. Nhưng gần như toàn bộ các mảnh của khẩu súng đã bị vứt rải rác hết”.

Những người lính công giáo trong hình chiến đấu chống lại quân cộng sản Việt Minh, nhưng họ không thuộc quân đội Việt Nam.

Sự thăng trầm của toàn bộ tình thế quân sự này phụ thuộc vào việc Mao quyết định làm gì. Nếu ông ta muốn dốc toàn bộ lực lượng hiện có để thực hiện một cuộc tổng tiến công, quân Pháp có khả năng phòng thủ được – với điều kiện họ nhận được viện trợ nặng kí từ Hoa Kì. Hiểm họa cốt yếu hơn nằm ở trường hợp Mao quyết định bổ sung thêm lực lượng, tăng con số chưa đầy 60.000 binh sĩ đang đóng quân gần biên giới Đông Dương lên gấp năm lần thành một đoàn quân xâm lược quy mô lớn.

Lãnh tụ Việt Minh Hồ Chí Minh, 60 tuổi, từng được đào tạo ở Mát-xcơ-va, vẫn duy trì liên hệ gần gũi với Kremlin.

Có hai luận điểm chính trị phản bác nguy cơ Trung Quốc xâm lược. Luận điểm thứ nhất là thông qua việc đó Mát-xcơ-va sẽ tiến gần thêm một bước đến Đệ tam Thế Chiến, vì đây sẽ là lần đầu tiên Nga mượn tay một đội quân ngoại bang để chinh phạt một quốc gia khác. Luận điểm thứ hai là hành động ấy sẽ là cú đánh chí mạng lột phăng tấm mặt nạ bảo vệ độc lập ở châu Á của phe cộng sản.

Mặc dù tất cả những yếu tố này khiến cho việc phe cộng sản khởi sự tấn công ít có khả năng xảy ra trong mùa thu này, phương Tây cũng chỉ có thể tận hưởng một giới hạn an toàn mong manh. Chủ nghĩa hiện thực u ám sẽ kết luận rằng chẳng qua chỉ vì tình hình Đông Nam Á nói chung đã trở nên tồi tệ cho nên Đông Dương mới có vẻ là một điểm mạnh ở châu Á. Bởi vì sự thật là chẳng thể nào có được giải pháp phòng thủ chừng nào các lực lượng quân Pháp (đang rất cần để chiến đấu ở những nơi khác) có thể được thay thế bằng một quân đội của Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với trận chiến thứ ba – trận chiến trên mặt trận chính trị – ở Đông Dương. Vì rằng kẻ thù ở đây không chỉ là một quân đội mà là một nhà nước – một nhà nước cộng sản đứng đầu là nhà cách mạng kì cựu Hồ Chí Minh, nhà nước này được Liên Xô và các chư hầu chính thức công nhận. Điều còn nghiêm trọng hơn là nhà nước này chiếm được sự ủng hộ của những thành phần đáng kể trong dân số Đông Dương.

Đối trọng với sự ủng hộ này, phương Tây chỉ có quan hệ đồng minh không mấy cơm lành canh ngọt giữa chủ nghĩa thực dân bị hoài nghi của Pháp và một chính phủ bản địa Việt Nam nặng gánh nợ nần chính trị.

Những người lính Cao Đài cũng chiến đấu chống cộng sản. Trong hình, họ đang duyệt binh trước đền thờ, người đứng đầu phía trước là giáo chủ.

Rối bời trong các công việc của chính nó và bị giới trí thức trong nước khinh thường, chính phủ Việt Nam được lèo lái bởi Hoàng đế Bảo Đại, quốc trưởng, người vừa là thiên tử vừa là tín đồ trung thành của các chốn ăn chơi ở Âu châu. Trên thực tế ông ta vẫn là một biểu tượng có khả năng khơi gợi sự trọng vọng to lớn. Giá trị của ông ta về mặt chính trị không bị ảnh hưởng nhiều bởi xu hướng ăn chơi rất công khai bằng bởi sự yếu đuối kiểu phương Đông của một người chỉ biết chờ đợi những điều tốt đến với mình. Ông là một người kiên nhẫn đến mức gần như không thể chịu nổi. Khi đi câu cá ngoài biển ở Vịnh Bắc Bộ, ông thường ngồi trong thuyền câu tới mười hai giờ liền mà không bắt được con cá nào, và chỉ trở lại du thuyền hoàng gia rất lâu sau khi tất cả tùy tùng đã bỏ cuộc hết vì chán nản. Trong chính trị, hành xử của ông cũng có phần giống như vậy. Cần gấp rút làm cho Bảo Đại hiểu rằng ông ta không thể nào đánh lui cộng sản bằng cách chờ đợi cho chủ nghĩa ấy tự lụi tàn.

Hoàng đế Bảo Đại, từng là một tay chơi ở châu Âu, được trọng vọng trong vai trò Quốc trưởng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn