Anh hùng Lực lượng vũ trang

Cánh buồm lửa trên sóng nước Trà Ôn: Huyền thoại tuổi 22 của người anh hùng Lục Sĩ Thành

"Khi tiếng súng Nam Bộ kháng chiến mùa thu năm 1945 vừa bùng lên thắp sáng dải đất phương Nam, dòng sông Măng Thít và đôi bờ cù lao Mây đã trở thành phòng tuyến nghẹt thở ngăn bước quân viễn chinh Pháp tái chiếm miền Tây sông nước. Giữa những ngày tháng 'mùa thu rồi ngày hai mươi ba' ấy, người thanh niên nghèo xứ Trà Ôn mang trong mình dòng máu quật cường đã chọn cách bước thẳng vào bão lửa. Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lục Sĩ Thành – người đội viên du kích kiên trung, bất khuất – đã hiến trọn 22 mùa xuân của cuộc đời mình cho nền độc lập non trẻ của dân tộc. Sự hy sinh lẫm liệt cùng khí tiết gang thép của anh trước mũi súng quân thù không chỉ giữ vững trận địa cho đồng đội rút lui an toàn, mà còn hóa thân thành biểu tượng bất tử, để lại tên mình cho một vùng cù lao ngút ngàn cây trái và niềm kiêu hãnh trường tồn của quê hương."

Cần Thơ30/10/2026Dương Nguyễn Giáp/ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Xã Trần Phú (xã Trần Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Phù sa cù lao Mây và tuổi thơ cơ cực của người thanh niên đất Trà Ôn

Dòng sông Hậu cuồn cuộn chảy qua miền Tây Nam Bộ khi rẽ nhánh qua địa phận Trà Ôn đã lắng tụ nên những dải cù lao trù phú, bốn mùa cây trái ngọt lành. Nổi bật giữa ngã ba sông nước mênh mang ấy là cù lao Mây (nay thuộc các xã Lục Sĩ Thành và Phú Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long – trước kia thuộc tỉnh Cần Thơ). Mảnh đất này không chỉ giàu có về sản vật mà còn là cái nôi nuôi dưỡng tinh thần quật khởi, nghĩa hiệp của người dân Nam Bộ từ thuở mang gươm đi mở cõi.

Chính tại mảnh đất cù lao sông nước ấy, năm 1924, người con mang tên Lục Sĩ Thành cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình bần nông nghèo khó:

  • Tuổi thơ của Lục Sĩ Thành là chuỗi ngày dài gắn liền với sự lam lũ, cơ cực của kiếp người tá điền dưới ách thống trị tàn bạo của chế độ thực dân Pháp và tầng lớp địa chủ phong kiến tay sai.

  • Hằng ngày, cậu bé Thành phải chứng kiến cảnh cha mẹ, họ hàng và bà con chòm xóm còng lưng làm lụng đầu tắt mặt tối trên các thửa ruộng, vườn cây nhưng quanh năm vẫn thiếu ăn, thiếu mặc; lúa làm ra bao nhiêu đều bị bọn địa chủ bòn rút tô cao thuế nặng.

  • Những roi vọt, bất công và tủi nhục mà người dân lao động phải gánh chịu đã sớm thổi bùng trong tâm can người thanh niên nghèo ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc và khát vọng cháy bỏng về một ngày người nghèo được đổi đời, giang sơn được sạch bóng quân xâm lược.

  • Lớn lên trong môi trường sông nước mênh mông, Lục Sĩ Thành sớm tôi luyện cho mình một thể lực dẻo dai, bơi lội giỏi giang như rái cá, thông thạo từng con rạch, ngọn lau, bờ bãi và tính cách bộc trực, trượng nghĩa, luôn sẵn sàng bênh vực kẻ yếu trước những áp bức bất công nơi thôn xóm.

    2. Ngọn cờ mùa thu và bước chân dấn thân vào phong trào tự vệ

    Mùa thu năm 1945, làn sóng cách mạng cuộn dâng khắp ba miền. Cách mạng Tháng Tám nổ súng thành công, đập tan ách thống trị gần một thế kỷ của thực dân Pháp và lật đổ chế độ phong kiến ngàn năm, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Hòa chung không khí sục sôi của toàn dân tộc:

    • Người thanh niên Lục Sĩ Thành tròn 21 tuổi đã hăng hái tham gia phong trào cướp chính quyền tại địa phương, hòa vào dòng người biểu tình cờ đỏ sao vàng rợp bóng khắp huyện Trà Ôn và tỉnh Cần Thơ.

  • Niềm hạnh phúc được làm người tự do của một quốc gia độc lập chưa trọn vẹn thì thực dân Pháp, dưới sự dung dưỡng của quân đội Anh, đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, mưu toan cướp nước ta một lần nữa.

  • Lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ vang lên như tiếng kèn xung trận: "Độc lập hay là chết!". Khắp thôn cùng ngõ hẻm miền Tây, lớp lớp thanh niên nô nức lên đường tòng quân đánh giặc.

  • Không ngần ngại gác lại việc đồng áng và hạnh phúc riêng tư, Lục Sĩ Thành lập tức tình nguyện gia nhập Đội Du kích xã Trà Côn, sau đó đứng trong hàng ngũ Đội Du kích huyện Trà Ôn. Đó là những ngày đầu kháng chiến muôn vàn thiếu thốn: trang bị vũ khí của du kích lúc bấy giờ chủ yếu là dao găm, giáo mác, súng hỏa mai và một vài khẩu súng trường cũ kỹ. Nhưng bù lại, người lính trẻ Lục Sĩ Thành cùng đồng đội mang trong tim một nguồn sức mạnh tinh thần vô địch – ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập non trẻ của quê hương.

    3. Những trận đánh xuất quỷ nhập thần trên sông rạch

    Đầu năm 1946, quân Pháp bắt đầu mở các cuộc hành quân quy mô lớn bằng tàu chiến, ca-nô và bộ binh hòng đánh chiếm các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trong đó có Cần Thơ và Vĩnh Long. Tuyến sông Hậu và ngã ba sông Măng Thít qua Trà Ôn trở thành huyết mạch giao thông đường thủy chiến lược mà giặc Pháp rắp tâm làm chủ để kiểm soát vùng lúa gạo trù phú.

    Đội Du kích Trà Ôn dưới sự đùm bọc, chở che của nhân dân đã bám chắc địa bàn sông rạch, biến vùng cù lao ngập nước thành pháo đài du kích hiểm hóc:

    • Tận dụng địa hình sông nước: Lục Sĩ Thành phát huy tối đa sở trường bơi lặn và sự am hiểu luồng lạch. Anh cùng đồng đội bí mật ngâm mình dưới nước hàng giờ, dùng lục bình ngụy trang để trinh sát các đồn bốt, theo dõi quy luật tuần tiễu của tàu chiến địch trên sông Măng Thít.

  • Những đòn tập kích táo bạo:

    • Bằng các chiến thuật đánh nhanh, rút gọn, giương đông kích tây, tổ du kích của Lục Sĩ Thành đã tổ chức nhiều trận phục kích, chặn đánh các toán lính lê dương đi càn quét, gom lúa, bắt bớ đồng bào.

  • Anh nổi tiếng là một tay súng gan góc, mưu trí, luôn nhận lãnh những nhiệm vụ hiểm nguy nhất: từ việc bò sát hàng rào cứ điểm ném lựu đạn phá hủy kho xăng, kho đạn của địch, đến việc giả dạng dân chài để áp sát tiêu diệt những tên lính Pháp ngông nghênh đi tuần tiễu.

  • Chỗ dựa vững chắc của nhân dân: Mỗi lần đơn vị về làng, Lục Sĩ Thành luôn dành thời gian gần gũi, giúp đỡ bà con chèo ghe, gặt lúa, tuyên truyền đường lối kháng chiến trường kỳ của Bác Hồ và Đảng. Hình ảnh người chiến sĩ du kích hiền lành, mộc mạc nhưng kiên cường trong chiến đấu đã in sâu vào lòng đồng bào cù lao Mây như một người con ruột thịt.

  • 4. Khúc tráng ca bất tử bên bờ sông Măng Thít (Tháng 10/1946)

    Cuối năm 1946, giặc Pháp tăng cường lực lượng cơ động, điên cuồng mở các đợt càn quét gắt gao nhằm triệt hạ các cơ sở kháng chiến và bẻ gãy lực lượng du kích tại khu vực Trà Ôn.

    Vào một ngày định mệnh tháng 10 năm 1946, nhận được tin báo của bọn tề điệp tay sai, quân Pháp huy động một lực lượng đông đảo gồm binh lính lê dương được trang bị hỏa lực mạnh, kết hợp ca-nô chiến và tàu chiến bất ngờ đổ bộ bao vây khu vực cù lao, hòng cất vó toàn bộ ban chỉ huy và lực lượng du kích ta đang đóng quân tại đây:

    • Trước tình thế hiểm nghèo, tương quan lực lượng quá chênh lệch, ban chỉ huy Đội Du kích quyết định chia thành các mũi nhỏ, vừa đánh chặn nghi binh, vừa tổ chức cho các đồng chí chỉ huy và cơ quan rút lui an toàn qua sông sang bờ bên kia để bảo toàn lực lượng.

  • Lục Sĩ Thành đã chủ động xung phong ở lại chốt giữ vị trí xung yếu nhất – ngã ba rạch dẫn ra bờ sông Măng Thít – để ghìm chân quân giặc:

    • Trong tay chỉ có một khẩu súng trường cùng vài quả lựu đạn thô sơ, người chiến sĩ 22 tuổi đã thoắt ẩn thoắt hiện sau những rặng bần, rặng dừa nước quen thuộc, bình tĩnh nhắm bắn chuẩn xác từng tên lính dẫn đầu.

  • Tiếng súng đanh thép của Lục Sĩ Thành đã đánh lừa quân Pháp, khiến chúng tưởng rằng đang đối đầu với một đơn vị chủ lực lớn của ta nên không dám ồ ạt xông lên mà phải chững lại, dàn đội hình nã đạn xối xả.

  • Nhờ những giây phút quý báu mà Lục Sĩ Thành cầm chân quân thù, toàn bộ ban chỉ huy cùng các đồng đội du kích đã vượt sông an toàn, bảo vệ trọn vẹn tài liệu bí mật và kho vũ khí.

  • Tuy nhiên, hỏa lực của đối phương quá dày đặc. Bom đạn pháo dội rát mặt đất cù lao. Sau nhiều đợt tấn công điên cuồng bị bẻ gãy, quân giặc phát hiện chỉ có một tay súng du kích duy nhất đang chốt chặn. Chúng lập tức khép chặt vòng vây, dùng súng máy hạng nặng bắn quét và bắc loa kêu gọi anh đầu hàng.

  • Khi viên đạn cuối cùng rời nòng và quả lựu đạn cuối cùng được ném đi tiêu diệt thêm những tên giặc tiến sát, Lục Sĩ Thành bị trúng đạn trọng thương và rơi vào tay quân thù trong tình trạng kiệt sức.

  • 5. Khí tiết rực lửa trước mũi súng đòn thù

    Biết bắt được một hạt nhân kiên cường của Đội Du kích Trà Ôn, quân Pháp và bọn tay sai hí hửng dùng mọi thủ đoạn để khai thác thông tin:

    • Ban đầu, chúng dùng lời lẽ ngọt ngào, hứa hẹn ban cho tiền bạc, chức tước nhằm dụ dỗ anh chỉ điểm nơi ẩn náu của ban chỉ huy và cơ quan kháng chiến huyện.

  • Đáp lại những lời chiêu dụ đê hèn ấy chỉ là ánh mắt rực lửa căm hờn và sự im lặng khinh bỉ của người chiến sĩ cách mạng.

  • Điên cuồng vì không lay chuyển được ý chí của người thanh niên trẻ tuổi, lũ giặc đã dùng những ngón đòn tra tấn dã man nhất thời trung cổ: chúng đánh đập anh đến tứa máu, dùng kìm rút móng tay, đốt đuốc thiêu da thịt... Thân thể anh chằng chịt những vết thương rớm máu, nhưng khí tiết của người chiến sĩ du kích Nam Bộ vẫn trơ như đá, vững như đồng.

  • Mỗi lần tỉnh lại sau những cơn ngất lịm vì đòn roi, Lục Sĩ Thành lại ngẩng cao đầu, đanh thép vạch mặt tội ác xâm lược của thực dân Pháp và khẳng định niềm tin tất thắng của cách mạng: "Chúng tao thà chết chứ không bao giờ phản bội Tổ quốc, không bao giờ bán đứng đồng bào!".

  • Bất lực trước một ý chí sắt đá không thể khuất phục, quân giặc đã hèn hạ sát hại anh ngay bên bờ sông quê hương vào một ngày tháng 10 năm 1946.

    Lục Sĩ Thành ngã xuống khi tuổi đời mới tròn 22 mùa xuân – độ tuổi thanh xuân tràn trề nhựa sống và ước mơ. Máu của người anh hùng trẻ tuổi đã thấm sâu vào đất mẹ cù lao, hòa vào dòng nước đỏ nặng phù sa của dòng Măng Thít, viết nên một khúc tráng ca kiêu hãnh mở đầu cho cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp oanh liệt của quân dân Nam Bộ.

    6. Sự tri ân của lịch sử: Hóa thân vào tên đất, tên làng

    Người chiến sĩ kiên trung ngã xuống, nhưng tinh thần bất khuất của anh đã trở thành ngọn đuốc soi đường, tiếp thêm ý chí chiến đấu sục sôi cho các thế hệ du kích Trà Ôn và miền Tây Nam Bộ bước tiếp con đường giải phóng quê hương.

    Ngay sau khi Lục Sĩ Thành hy sinh:

    • Để tưởng nhớ công lao to lớn và tinh thần hy sinh lẫm liệt của người đội viên du kích kiên cường, chính quyền cách mạng và nhân dân địa phương đã trân trọng lấy tên anh đặt tên cho mảnh đất cù lao Mây – nơi anh sinh ra, lớn lên và chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

  • Vùng đất cù lao anh hùng ấy từ đó chính thức mang tên xã Lục Sĩ Thành (thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Đây là một niềm vinh dự hiếm có, là minh chứng cao đẹp nhất cho sự tôn vinh của lòng dân đối với người anh hùng đã ngã xuống vì độc lập tự do.

  • Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc bảo vệ biên giới Tây Nam, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Lục Sĩ Thành luôn noi gương người anh hùng liệt sĩ quê hương, đoàn kết một lòng, biến vùng đất bom cày đạn xới năm xưa thành một xã nông thôn mới trù phú, những vườn chôm chôm, sầu riêng, cam sành trĩu quả xanh ngút ngàn đôi bờ sông Hậu.

    7. Mốc son phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 2010

    Suốt hơn nửa thế kỷ trôi qua, chiến công và tấm gương hy sinh oanh liệt của Lục Sĩ Thành vẫn luôn là niềm tự hào sâu sắc, được khắc ghi trang trọng trong lịch sử Đảng bộ quân và dân tỉnh Cần Thơ (cũ) cũng như tỉnh Vĩnh Long.

    Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự hy sinh anh dũng vô song trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định truy tặng Liệt sĩ Lục Sĩ Thành danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    Đồng chí cũng được Đảng và Nhà nước truy tặng nhiều phần thưởng cao quý:

    • Huân chương Kháng chiến hạng Nhất;

  • Huân chương Chiến công hạng Nhất;

  • Bằng Tổ quốc ghi công cùng nhiều phần thưởng, kỷ niệm chương vẻ vang khác.

  • Ngày nay, tại trung tâm xã Lục Sĩ Thành, một khu tưởng niệm và tượng đài uy nghiêm của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lục Sĩ Thành được xây dựng khang trang, lộng gió bên dòng sông Hậu. Nơi đây đã trở thành một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng để giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

    Cuộc đời 22 mùa xuân của Anh hùng Liệt sĩ Lục Sĩ Thành là một biểu tượng rực rỡ cho khí phách của thế hệ thanh niên Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh: sẵn sàng lấy máu xương của mình làm gạch đá lót đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ người thanh niên bần nông lam lũ xứ Trà Ôn đến người chiến sĩ du kích hiên ngang ngã xuống trước họng súng quân thù bên dòng Măng Thít, tên tuổi của Lục Sĩ Thành đã hòa quyện vĩnh hằng vào sông núi, hóa thân thành tên đất, tên làng, ngời sáng mãi cùng non sông gấm vóc Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn