Bài viết

Cánh chim bằng vượt gió ngàn Côn Đảo và 32 năm chèo lái con thuyền non sông

Bản hùng ca chính luận về cuộc đời vĩ đại của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – người học trò kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ quyết định từ bỏ vinh hoa trường Bưởi tuổi đôi mươi, hiên ngang đi qua "lò luyện thép" Côn Đảo, đến kỷ lục hơn ba thập kỷ đứng mũi chịu sào cương vị người đứng đầu Chính phủ, ông đã để lại di sản bất tử về một nhà lãnh đạo kiên trung, một nhà văn hóa lớn và một tấm gương liêm chính trọn đời vì dân, vì nước.

Quảng Trị06/06/2026Nguyễn Vũ Bảo Khang Chi đoàn 10 Chuyên Sử (Đoàn phường Đồng Hới)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong đền thờ tâm linh và lịch sử của dân tộc Việt Nam, có những cuộc đời đã vượt thoát khỏi giới hạn của thời gian sinh học để hóa thân thành những tượng đài sừng sững của ý chí, trí tuệ và nhân cách. Suốt 94 năm hiện diện trên cõi đời với hơn 75 năm dấn thân không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước, dấu chân của vị cố Thủ tướng kính yêu đã in đậm trên mọi chặng đường gian truân và vinh quang của dân tộc. Từ những lớp huấn luyện chính trị bí mật tại Quảng Châu, qua "địa ngục trần gian" Côn Đảo xiềng xích, cho đến hơn ba thập kỷ chèo lái "con thuyền" Chính phủ qua những khúc quanh ngặt nghèo nhất của lịch sử hiện đại, ông không chỉ là một cộng sự tin cậy, một học trò xuất sắc bậc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là người đã cụ thể hóa một cách hoàn hảo tư tưởng, đạo đức của Người thành lối sống, hành động và di sản tinh thần vô giá cho hậu thế. Ở ông, người ta không chỉ nghiêng mình trước một nhà chính trị sắc sảo, tận tụy trọn đời vì nước vì dân, mà còn thấy hiện hữu một tấm gương đạo đức cách mạng sáng trong như ngọc, một biểu tượng vĩ đại của lòng liêm chính.

Ngược dòng thời gian về năm 1926, tại ngôi trường Bưởi danh tiếng giữa lòng Hà Nội, có một người thanh niên dáng hình mảnh khảnh nhưng ánh mắt sáng quắc đang đứng trước ngưỡng cửa định mệnh của cuộc đời mình khi vừa tròn tuổi hai mươi. Sinh ra tại mảnh đất "núi Ấn, sông Trà" Quảng Ngãi vốn địa linh nhân kiệt, nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khí phách kiên cường, ông là con trai của một vị quan thanh liêm từng dạy học cho vua Duy Tân. Với nền tảng gia đình đại trí thức như vậy, cùng tấm bằng Tú tài danh giá sắp chạm tay, con đường tương lai của ông vốn đã được trải thảm đỏ hướng tới một vị trí vững chắc trong bộ máy quan trường, một đời sống vinh hoa và sự nể trọng của xã hội đương thời. Thế nhưng, trong sâu thẳm lòng người thanh niên ấy lại là nỗi thao thức không nguôi về vận mệnh dân tộc khi tận mắt chứng kiến cảnh đồng bào bị đánh đập, sỉ nhục bởi thực dân xâm lược. Giữa lằn ranh của vinh hoa cá nhân và nỗi nhục nô lệ của giang sơn, ngọn lửa yêu nước từ phong trào bãi khóa đòi để tang cụ Phan Chu Trinh đã thổi bùng trong ông ý chí hành động. Ông thực hiện một quyết định làm chấn động gia đình: từ bỏ kỳ thi tốt nghiệp, rời bỏ trường Bưởi để dấn thân vào con đường hoạt động bí mật đầy rẫy gian nan, nguy hiểm. Vượt biên sang Quảng Châu dưới sự dìu dắt trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên họ Phạm đã tìm thấy câu trả lời cho mọi trăn trở bấy lâu, cởi bỏ chiếc áo "cậu ấm" nhà quan để tôi luyện nên một người cộng sản kiên định, nguyện dùng cả đời mình để phụng sự Tổ quốc.

Nếu Quảng Châu là nơi gieo mầm lý luận, thì ngục tù thực dân chính là "lò luyện thép" đã trui rèn nên bản lĩnh kiên cường của ông. Bị mật thám Pháp bắt giữ tại ga Sài Gòn vào mùa hè năm 1929, đối mặt với họng súng và sự xảo quyệt của kẻ thù, ông vẫn giữ thái độ bình tĩnh, hiên ngang thừa nhận lý tưởng mình theo đuổi nhưng tuyệt đối bảo vệ tổ chức để rồi nhận bản án 10 năm tù giam và bị đày ra Côn Đảo. Tại Banh 2 – nơi nổi tiếng với chế độ cầm cố khắc nghiệt, thiếu ánh sáng, khí trời và cơm hẩm đầy sạn, nơi nhiều đồng chí đã ngã xuống vì bệnh tật, ông vẫn kiên cường đứng vững như một cây tùng trước bão. Trong bóng tối của xiềng xích, ông biến ngục tù thành trường học, tích cực dạy văn hóa, ngoại ngữ và tóm tắt các tác phẩm kinh điển của Marx, Engels để truyền bá lý luận cho anh em chiến sĩ. Hình ảnh người tù cao gầy, da ngăm đen, luôn cắp sau lưng cuốn sách đã trở thành biểu tượng của trí tuệ và niềm tin, thắp sáng khám tù lạnh lẽo. Bản lĩnh thép của ông thể hiện qua những cuộc tuyệt thực đấu tranh trực diện với bọn cai ngục và sự bao dung văn hóa đã cảm hóa được cả những người tù thuộc các xu hướng chính trị khác, khiến họ ngả theo lập trường vô sản. Bảy năm bị đày ải làm sức khỏe suy kiệt nhưng lại làm tâm hồn và trí tuệ ông trở nên sắc bén hơn bao giờ hết, sẵn sàng gánh vác những trọng trách lớn lao của dân tộc sau này.

Năm 1955, giữa bộn bề công việc của một quốc gia vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Suốt 32 năm liên tục trên cương vị này – một kỷ lục vô tiền khoáng hậu trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam – ông đã điều hành bộ máy hành chính với tinh thần làm việc không mệt mỏi, dẫn dắt dân tộc qua hai thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng, tìm đường đổi mới kinh tế hậu chiến. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hình ảnh vị Thủ tướng mặc bộ quần áo kaki sờn bạc màu, trực tiếp có mặt tại các công trường, nhà máy, vùng quê bị bom đạn cày xới để lắng nghe hơi thở của đời sống đã trở nên quá đỗi quen thuộc và thiêng liêng đối với nhân dân. Ông luôn tâm niệm mọi chính sách nếu không xuất phát từ lợi ích của nhân dân thì chỉ là những con chữ chết trên giấy. Tại các phiên họp Hội đồng Bộ trưởng thời hậu chiến, ông thể hiện một tầm nhìn đổi mới sắc sảo khi kiên quyết phá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cổ vũ mạnh mẽ cho "khoán mới" để giải phóng sức sản xuất của đất nước. Dù ở đỉnh cao quyền lực, ông vẫn giữ nếp sống thanh bạch, căn nhà đơn sơ, bữa ăn đạm bạc và thái độ tôn trọng tuyệt đối dành cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ngành giáo dục và y tế. Ông chính là hiện thân sinh động của một "người đầy tớ trung thành" của nhân dân, kiên quyết chống lại thói quan liêu, cửa quyền – kẻ thù nội xâm tàn phá niềm tin của quần chúng.

Không dừng lại ở hình ảnh một nhà chính trị sắc sảo, ông còn là một nhà văn hóa lớn, một trí thức uyên bác mang tầm vóc thời đại với quan niệm sâu sắc rằng cách mạng chính là sự thăng hoa của văn hóa và phẩm giá con người. Ông dành cả cuộc đời để vun đắp cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, viết nên những tiểu luận văn hóa mẫu mực về Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Du và Chủ tịch Hồ Chí Minh để khơi dậy sức sống nội sinh của con người Việt Nam. Đạo đức văn hóa của ông gắn liền mật thiết với tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi được Bác Hồ giao phụ trách hướng "Tây tiến", ông đi đến đâu cũng được đồng bào yêu mến, quý trọng bởi sự chân thành, cùng ăn thắng cố, cùng uống rượu cần, nói tiếng nói của đồng bào, dùng sự nhân văn và tinh tế để hóa giải mọi nghi ngại, quy tụ các nhân sĩ, trí thức về chung một ngọn cờ đại nghĩa. Trên bình diện quốc tế, phong cách ngoại giao văn hóa điềm tĩnh, lịch thiệp và đầy trí tuệ của ông đã dùng sức mạnh của chính nghĩa để thuyết phục bạn bè thế giới, để lại những ấn tượng sâu đậm về một Việt Nam yêu chuộng hòa bình.

Hành trình gần một thế kỷ của ông là sự nhất quán tuyệt đối giữa lời nói và việc làm, giữa lý tưởng và hành động, là biểu hiện xuất sắc của phong cách đạo đức Hồ Chí Minh "nhìn xa thấy rộng, tinh tế và linh hoạt, kiên cường và mềm dẻo". Đạo đức của ông không giáo điều, xa vời mà hiện hữu ngay trong lối sống thanh bạch, lòng liêm chính và sự thấu cảm sâu sắc nguyện vọng của nhân dân. Tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với những chiến công hiển hách của lịch sử giữ nước mà sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, sống mãi trong sự nghiệp cách mạng và trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam, làm rạng danh cho mảnh đất "núi Ấn, sông Trà" đã sinh ra một người con ưu tú, trọn nghĩa vẹn tình với non sông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn