Cánh chim bất tử - Người phi công huyền thoại Nguyễn Văn Bảy
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy, tên thật là Nguyễn Văn Hoa, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1936. Ông là con thứ bảy trong một gia đình nông dân nghèo có 11 anh chị em. Là một người con của xứ sở sen hồng - Đồng Tháp, nơi cuộc sống gắn bó với những con đò và những đồng ruộng bạt ngàn, tuổi thơ của ông không có nhiều con chữ mà chỉ có những cách diều, những ngày lao động giúp gia đình mưu sinh và một bầu trời xanh thẳm nuôi dưỡng khát vọng về một đất nước tự do trong lòng cậu bé ấy.
17 tuổi, ông bị ép cưới vợ. Vì không muốn lập gia đình sớm, ông trốn cha mẹ đi theo cách mạng. Thời ấy, bộ đội tối tối thường xuống xóm để tuyên truyền. "Tao nghe tao thích. Hồi đó 17 tuổi nói đến cách mạng mình đâu có biết gì đâu. Chỉ biết đánh thằng áp bức dân mình, phải chống lại và đánh lại những thằng đó", ông Bảy chia sẻ.
Ông đã vượt hàng trăm cây số ra Bắc để gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Với tình yêu quê hương rực cháy trong tim và tính cách gan góc, ông được tuyển chọn vào lực lượng không quân - một lĩnh vực đòi hỏi trí tuệ, kĩ năng, ý chí sắt đá và một trái tim quả cảm, trung thành với tổ quốc. Với biệt danh Bảy A, ông được gửi đi huấn luyện tại Trung Quốc, nơi ông được lần đầu tiên gặp gỡ và sử dụng chiếc tiêm kích MiG-17, loại máy bay sẽ gắn bó với cuộc đời phi công của ông sau này.
Sang Trung Quốc, ông Bảy phải vùi đầu vào học vì thầy giáo dạy bằng tiếng nước ngoài. Ban đầu thầy bay trước một vòng cho học viên xem, rồi sau đó các học viên bay cho thầy xem. Ông Bảy đầu óc vốn nhanh nhạy nên hầu như những gì thầy giáo làm, ông đều bắt chước được y hệt.
Khi mới học lái, tiền đình ông Bảy không được tốt lắm. Cứ lên máy bay là ông ói mửa. Để khắc chế những cơn nôn thốc nôn tháo, ông Bảy bổ ruột trái banh, cắt bỏ 1/3 rồi đeo vào cổ, lúc nào buồn nôn thì ói vào đó. Mất một năm ông mới hết say.
Trong thời gian đó, ông tiếp tục bổ túc thêm kiến thức đại số, các định luật, thiên văn khí tượng, cách nhìn đám mây. Với ngoại ngữ, ông chỉ học những từ ngữ quan trọng nhất như quẹo trái, quẹo phải, kéo cần lên - xuống.
Lần đầu tiên lái máy bay cánh quạt K-56, khi ông vừa nhấn công tắc thì máy nổ, quay rào rào. Chàng phi công mới khoái chí, bỏ cần lái rồi vỗ tay. Thầy giáo phía sau vội chụp lấy cần điều khiển rồi gắt giọng: "Đồng chí vô kỷ luật".
Ông Bảy thanh minh rằng từ nhỏ chưa hề biết việc này, tự nhiên "một cục sắt, vừa ấn cái nó quay rào rào" nên ông mới làm vậy. Nhớ lại kỷ niệm này, ông cười: "May có thầy giáo giữ cần điều khiển cho mình nếu không nó đâm vào đâu thì chết".
Ngày 19/6/1965, lần đầu tiên cất cánh chiến đấu trên bầu trời Yên Thế (Hà Bắc cũ - nay là Bắc Giang), máy bay của ông bị trúng đạn, thủng kính buồng lái. Lúc đó, ông Bảy điều khiển máy bay số ba, đi theo bảo vệ thì bị máy bay địch bắn từ phía sau. Khi kiểm tra, máy bay có 82 lỗ, lỗ lớn nhất to bằng cái mũ. Dù vậy nhưng ông vẫn hạ cánh an toàn. Từ chuyến bay này, ông rút ra kinh nghiệm: khi xung trận thì phải luôn cảnh giác phía sau.
Trong những năm 1966 và 1967, ông Bảy đã 13 lần xông pha nơi khói lửa, 7 lần ông bóp cò thì 7 máy bay Mỹ bị bắn hạ. Chưa lần nào ông phải nhảy dù. Chiến công đầu tiên được xác lập vào ngày 21/6/1966, ông bắn hạ máy bay F8 Crusader của phi đội 211 do Cole Black điều khiển. Đến các ngày 24 và 29/6/1966, phi công Bảy tiếp tục bắn rơi các loại máy bay F-4C và F105D. Ngày 21/9/1966, 16 máy bay F-4 và F105 của Mỹ chia thành nhiều tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bao vây biên đội bốn máy bay Việt Nam trên bầu trời Hải Dương. Ông Bảy hạ một chiếc F-4 trong tổng số ba máy bay Mỹ bị bắn hạ. Sang năm 1967, ông tiếp tục bắn rơi ba máy bay khác.
Sau năm đó, theo chính sách giữ gìn phi công giàu kinh nghiệm, ông không còn lên tiền tuyến mà được gánh vác trọng trách dẫn dắt, rèn giũa và truyền thụ kinh nghiệm cho những lớp phi công non trẻ. Năm 1972, ông cùng trung đoàn trưởng bắt đầu chỉ huy đánh trận Điện Biên Phủ trên không (12 ngày đêm khói lửa).
Bầu trời Hà Nội và Hải Phòng các ngày ấy rực đỏ cùng những chiếc “lưỡi hái tầng không” từ phía bên kia đại dương - B52. Khi đó, ông có vợ và hai con, chia nhau mỗi người giữ một đứa. Có đêm báo động 12 lần, mỗi lần báo động ông Bảy và con chạy tọt vào hầm. "Có lúc con nó hỏi máy bay còn bao nhiêu cây số nữa ba. Tao bảo chắc hết rồi. Mới nói thì một loạt bom rải ngay trên hầm. Hai cha con ôm nhau chạy", ông Bảy hồi tưởng lại ký ức chiến tranh.
Hòa bình lặp lại, ông chỉ huy tiếp quản sân bay Cần Thơ; sau đó tham gia điều hành các sân bay khác ở miền Nam như Biên Hoà, Tân Sơn Nhất; chỉ huy không quân làm nhiệm vụ tại Campuchia.
Năm 1989, ông nghỉ hưu, làm Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Không quân tại thành phố Hồ Chí Minh, một năm sau thì về thành phố Sa Đéc sống cùng gia đình. 10 năm qua, ông cùng gia đình chuyển về quê ở huyện Lai Vung sống bằng nghề nông. Vào 21 giờ ngày 22/9/2019, ông đã nhắm mắt xuôi tay.
Cuộc đời người phi công huyền thoại gắn với con số 7 kỳ lạ: Tham gia cách mạng năm 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày xong 7 lớp, 7 lần bắn rơi máy bay địch, lái máy bay chiến đấu MiG17, được 7 huy hiệu Bác Hồ; được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967.
Cõi đời của phi công Nguyễn Văn Bảy chính là minh chứng sống động nhất cho tinh thần và cốt cách của con người Việt Nam: kiên cường trong chiến đấu nhưng lại vô cùng mộc mạc trong đời thường. Những chương đời của ông Bảy từ thuở thiếu niên trốn gia đình theo cách mạng, những trận đối đầu nghẹt thở với không quân hiện đại của Mỹ, cho đến những năm tháng vui vầy bên ao cá, ruộng vườn lúc rửa tay gác kiếm, đều là những câu chuyện truyền cảm hứng mạnh mẽ. Ông đã sống một cuộc đời trung với nước, hiếu với dân, để lại một di sản tinh thần vô giá cho các thế hệ mai sau noi theo và tự hào.



