CÁNH CHIM ĐẦU ĐÀN CỦA ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG VÀ KHÚC CA BẤT TỬ BÊN DÒNG SUỐI LÊ-NIN
Trong lịch sử phong trào cách mạng Việt Nam, cội nguồn Pác Bó (Cao Bằng) là nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã đặt bước chân đầu tiên trở về Tổ quốc để trực tiếp nhóm lên ngọn lửa giải phóng dân tộc. Giữa đại ngàn Việt Bắc trùng điệp, không chỉ có các chiến sĩ cứu quốc quân kiên trung mà còn có những thiếu niên dân tộc thiểu số sớm giác ngộ cách mạng, gánh vác trọng trách liên lạc bí mật bảo vệ Trung ương Đảng. Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kim Đồng (tên thật là Nông Văn Dền) – người con ưu tú của đồng bào dân tộc Nùng – chính là người đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng Cứu quốc (tiền thân của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh). Tiếng súng đánh động quân thù và sự hy sinh anh dũng của người thiếu niên 14 tuổi bên bờ suối Lênin mùa xuân năm 1943 đã tạc nên một tượng đài bất tử, trở thành biểu tượng rực rỡ nhất của thế hệ măng non đất Việt.
Đầu thập niên 1940, sau khi Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941) họp tại lán Khuổi Nặm, Pác Bó dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc:
Thực dân Pháp và tay sai ráo riết khủng bố trắng, lập hệ thống đồn bốt, trạm kiểm soát dày đặc nhằm phong tỏa khu căn cứ cách mạng non trẻ; mật thám lùng sục ráo riết từng hang đá, lùm cây nhằm truy bắt các cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng.
Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các hội nghị cơ mật, đường dây giao liên từ Pác Bó tỏa đi các vùng phụ cận cần những người liên lạc am tường địa bàn rừng núi hiểm trở, nhanh nhẹn, tuyệt đối trung thành và có vỏ bọc tự nhiên nhất trước sự nghi ngờ của kẻ thù.
Nhận thấy vai trò xung kích của thiếu nhi, ngày 15 tháng 5 năm 1941, tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, theo chỉ thị của Bác Hồ, Chi bộ Đảng đã thành lập Đội Nhi đồng Cứu quốc gồm năm đội viên đầu tiên: Nông Văn Dền (Kim Đồng), Nông Văn Thàn (Cao Sơn), Lý Văn Tịnh (Thanh Minh), Lý Thị Nì (Thủy Tiên) và Lý Thị Xậu (Thanh Thủy).
Cậu bé Nông Văn Dền – với mật danh cách mạng là Kim Đồng – được tập thể tín nhiệm bầu làm Đội trưởng đầu tiên của Đội.
Người thiếu niên Nùng giác ngộ ngọn lửa cách mạng Pác Bó
Kim Đồng sinh năm 1929 tại làng Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng – vùng đất biên cương hùng vĩ, giàu truyền thống đấu tranh bất khuất của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Sinh ra trong một gia đình dân tộc Nùng nghèo khổ, sớm mồ côi cha do nạn phu phen tạp dịch hà khắc của thực dân Pháp, Kim Đồng lớn lên cùng sự đùm bọc của người mẹ tảo tần và người anh trai Nông Văn Thầu (sau này là chiến sĩ giải phóng quân hy sinh vì độc lập):
Sớm chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của quan lại thực dân đối với bà con dân bản, lòng căm thù giặc đã hun đúc trong tâm hồn cậu từ thuở nhỏ.
Khi cách mạng về bản làng, Kim Đồng cùng các bạn được các cán bộ Việt Minh như Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên giác ngộ, truyền thụ lòng yêu nước và ý thức đánh đuổi quân xâm lược.
Nhận mật danh Kim Đồng (nghĩa là "chú bé bằng vàng"), người thiếu niên 12 tuổi đã hăng hái tuyên thệ trung thành với cách mạng, nguyện cống hiến sức mình cho công cuộc giải phóng bản mường, đất nước.
Người đội trưởng liên lạc mưu trí, xuất quỷ nhập thần
Dưới sự dẫn dắt của Kim Đồng, Đội Nhi đồng Cứu quốc thôn Nà Mạ đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ: giao thông liên lạc, bảo vệ các cuộc họp bí mật của cán bộ cách mạng, dẫn đường cho cán bộ đi lại giữa các vùng căn cứ và làm nhiệm vụ canh gác, chuyển thư từ, tài liệu hỏa tốc:
Tài ứng biến thông minh: Với sự tháo vát, dũng cảm và trí thông minh thiên bẩm, Kim Đồng sáng tạo nhiều cách ngụy trang độc đáo: khi thì giả làm đứa trẻ đi cắt cỏ, lấy củi, lúc lại mang theo giỏ bẫy chim, lúc thả trâu ven đường rừng để quan sát động tĩnh của lính đồn dõng.
Mắt xích liên lạc xung yếu: Tài liệu, truyền đơn mật được cậu khéo léo giấu trong bẹ bắp, dưới đáy giỏ nứa hoặc cài trong ống tre. Cậu từng nhiều lần dũng cảm vượt qua các trạm gác gắt gao của lính Pháp và mật thám, mang công văn khẩn của cấp trên chuyển giao an toàn cho cán bộ Việt Minh đóng sâu trong hang đá.
Bảo vệ tuyệt đối căn cứ Trung ương: Trong những năm tháng Bác Hồ sống và làm việc tại hang Cốc Bó, Kim Đồng cùng đồng đội nhỏ tuổi là bức bình phong tiền tiêu vững chắc, bảo đảm đường đi lối lại cho lãnh tụ và các đồng chí cán bộ Trung ương không bao giờ bị địch lần ra manh mối.
Tiếng súng đánh động quân thù và khúc tráng ca sáng ngày 15 tháng 2 năm 1943
Đầu năm 1943, phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ khiến thực dân Pháp hoang mang tột độ. Chúng ráo riết huy động lính khố đỏ và mật thám mở các đợt càn quét bất ngờ vào các làng mạc ven Pác Bó hòng bắt trọn các cán bộ chủ chốt của ta.
Rạng sáng ngày 15 tháng 2 năm 1943, một cuộc họp quan trọng của cán bộ Việt Minh đang diễn ra bí mật trong một căn nhà sàn tại khu vực hang đá gần suối Lênin:
Được phân công làm nhiệm vụ canh gác tiền tiêu, Kim Đồng leo lên một mỏm đá cao quan sát địa hình. Bất ngờ, cậu phát hiện một toán lính Pháp trang bị vũ khí đầy đủ đang bí mật luồn rừng, lợi dụng sương mù dày đặc để áp sát căn cứ họp của ta.
Tình thế ngàn cân treo sợi tóc: khoảng cách giữa quân địch và nơi các cán bộ họp chỉ còn trong gang tấc. Nếu Kim Đồng chạy về báo tin thì địch sẽ phát hiện và nổ súng ngay, các đồng chí lãnh đạo sẽ không kịp trở tay sơ tán tài liệu và thoát hiểm.
Không một giây do dự, người đội trưởng 14 tuổi đưa ra một quyết định phi thường: Cậu chạy vụt về hướng ngược lại với nơi họp, cố tình tạo ra tiếng động lớn rồi huýt sáo và cất tiếng gọi đàn trâu thật to nhằm thu hút toàn bộ sự chú ý của quân thù về phía mình.
Tiếng hô vang giữa rừng sớm đánh động cho các cán bộ Việt Minh trong hang kịp thời thu dọn tài liệu mật, nhanh chóng rút lui an toàn theo lối mòn bí mật lên sườn núi đá.
Bị lộ kế hoạch bao vây bất ngờ, toán lính giặc điên cuồng dồn hỏa lực súng trường bắn xối xả đuổi theo người thiếu niên dũng cảm.
Trúng đạn của quân thù, Kim Đồng bị thương nặng nhưng vẫn cố dùng chút tàn lực cuối cùng bò về phía bờ suối Lê-nin, gần chân núi đá Nà Mạ, trước khi trút hơi thở cuối cùng vào sáng ngày 15 tháng 2 năm 1943.
Người Đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên Cứu quốc đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời vừa tròn 14 – dâng hiến trọn vẹn tuổi thơ trong sáng để bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các cán bộ lãnh đạo cách mạng.
Tượng đài bất tử của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Sự hy sinh quên mình của Kim Đồng đã trở thành một mốc son bất diệt trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc, thổi bùng lên ngọn lửa căm thù giặc và tinh thần yêu nước trong toàn thể nhân dân và thế hệ thiếu nhi cả nước.
Ghi nhận công lao to lớn và sự hy sinh anh dũng tuyệt vời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Liệt sĩ Kim Đồng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (truy tặng năm 1997).
Để đời đời ghi nhớ và tôn vinh người thiếu niên anh hùng:
Khu di tích mộ Anh hùng Liệt sĩ Kim Đồng được xây dựng trang nghiêm ngay dưới chân núi đá Nà Mạ, bên cạnh dòng suối Lênin lịch sử tại xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng – trở thành địa chỉ đỏ hành hương thiêng liêng của các thế hệ thiếu nhi Việt Nam.
Nhà xuất bản chuyên về sách thiếu nhi lớn nhất nước mang tên Nhà xuất bản Kim Đồng.
Tên tuổi của Anh hùng Kim Đồng được trân trọng đặt cho hàng trăm trường tiểu học, trung học cơ sở, các vườn hoa, công viên và các tuyến đường lớn trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Bài hát "Kim Đồng" của nhạc sĩ Phong Nhã với những giai điệu hào sảng: "Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít / Dấn bước ra đi Kim Đồng lên chiến khu..." đã trở thành bài ca truyền thống bất hủ sống mãi trong lòng bao thế hệ măng non đất Việt.
Cuộc đời 14 mùa xuân ngắn ngủi nhưng rực rỡ khí phách của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kim Đồng là một bản anh hùng ca trong trẻo và bi tráng. Từ núi rừng Pác Bó thiêng liêng, hình ảnh người thiếu niên Nùng thoăn thoắt băng rừng làm liên lạc và ngã xuống bên dòng suối mát mãi mãi là ngọn cờ đầu dẫn lối, tạc vào lịch sử non sông một biểu tượng chói ngời về lòng trung kiên, đức hy sinh và tinh thần yêu nước bất diệt của tuổi trẻ Việt Nam anh hùng.



