CÁNH CHIM HUYỀN THOẠI VỖ CÁNH BAY TỪ ĐẤT SEN HỒNG
Có một câu chuyện kể rằng, chiếc Mig-17 của ông Bảy sau một trận đánh trở về bị trúng hơn 80 vết đạn. Thân máy bay lỗ chỗ như cái rây. Nhưng ông vẫn bình thản hạ cánh, bước xuống và hỏi thợ máy: "Này, vá lại cho tao, mai tao lại đi tiếp"...
Năm 1936, tại vùng đất Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay là Đồng Tháp), trong một gia đình nông dân nghèo có mười người con, có người con trai thứ 7 tên là Nguyễn Văn Hoa, theo phong cách xưng hô của người Nam Bộ thường hay xưng hô theo thứ trong nhà nên thường hay gọi là Nguyễn Văn Bảy.
Cuộc đời của ông Nguyễn Văn Bảy những năm đầu đời chỉ quanh quẩn với bờ mương, gốc rạ. Đến năm 17 tuổi, với ý chí của một chàng trai trẻ không muốn toàn bộ sức trẻ của mình chỉ quanh quẩn với con trâu, cái cày trong khi đất nước chịu nhiều đau thương do quân giặc xâm lược. Ông đã quyết định trốn gia đình trước sự thúc giục cưới vợ sinh con để tham gia du kích. Ông sau này thường cười khà khà kể lại:
"Hồi đó tui đi bộ đội là để... trốn lấy vợ. Chứ ở quê sớm chiều quanh quẩn với con trâu, rồi cưới vợ sinh con thì uổng cái đời trai quá. Tui muốn đi xem thiên hạ người ta đánh giặc ra sao."
Cái xuất thân "ròng rẫy nông dân" ấy chính là nền tảng tạo nên một phong cách chiến đấu không giống bất kỳ giáo trình quân sự nào của thế giới: thực tế, liều lĩnh nhưng vô cùng mưu mẹo.
Sau Hiệp định Geneve 1954, Nguyễn Văn Bảy tại ngũ trong đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam tập kết ra miền Bắc. Năm 1960, ông được chuyển binh chủng từ bộ binh sang không quân, theo học lớp lái máy bay phản lực ở Liên Xô. Trước đó, do học chưa hết lớp 3, phải học ở Trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn và được phổ cập từ lớp 4 lên lớp 10. Ban đầu ông học lái máy bay Yak-52, sau đó chuyển dần lên Mig-15, Mig-17.
Năm 1965, ông Bảy về nước và tham gia chiến đấu ngay trong những ngày đầu Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc.
Lúc 10h ngày 19 tháng 6 năm 1965, biên đội Mig-17 của Nguyễn Văn Bảy cất cánh, đây là lần đầu tiên ông Nguyễn Văn Bảy xuất trận. Đến 10h10 thì Không quân Việt Nam phát hiện máy bay Mỹ trên bầu trời Yên Thế và quyết định tấn công. Lực lượng Mỹ dựa vào số đông phản kích. Trận này máy bay của ông bị trúng 1 quả tên lửa nổ gần, thân máy bay bị hơn 80 vết thủng, có những vết thủng lớn hơn cả bàn tay, nhưng ông vẫn cố gắng điều khiển máy bay hạ cánh an toàn. Đây được xem là kỳ tích khi hiếm có phi công tiêm kích phản lực nào trên thế giới mà máy bay bị thương gần nát khúc đuôi vẫn còn bình tĩnh và tự tin đưa nó về hạ cánh an toàn.
Chiến thuật của ông Bảy rất đơn giản nhưng chết người: Đánh áp sát. Ông thường đợi máy bay Mỹ vào thật gần, gần đến mức nhìn rõ số hiệu máy bay và mặt phi công Mỹ rồi mới xiết cò. Ông giải thích:
"Máy bay mình yếu hơn, súng mình ngắn hơn thì mình phải lại gần mà đánh. Giống như đánh giáp lá cà dưới đất vậy, cứ áp sát vào nách nó thì nó không làm gì được mình."
Trong những năm 1966-1968, ông Bảy tiếp tục tham gia nhiều trận đánh trên không, ngăn chặn từng đợt không kích cũng như những đội tiêm kích hô tống máy bay ném bom đánh phá miền Bắc, Ông đã bắn rơi tổng cộng 7 máy bay Mỹ gồm hai chiếc F-105 và năm chiếc F-4, tất cả các máy bay bị ông Nguyễn Văn Bảy bắn hạ đều là thế hệ đời mới, hiện đại và có tốc độ vượt trội hơn so với chiến Mig-17 mà ông điều khiển.
Trong một lần đón tiếp các đoàn khách quốc tế và phóng viên nước ngoài hỏi về bí quyết chiến thắng của quân dân Việt Nam, Nguyễn Văn Bảy đã thốt lên một câu nói đầy tự hào và sảng khoái:
"Ở Việt Nam, ra ngõ gặp anh hùng."
Câu nói ấy không chỉ là sự khiêm tốn của riêng ông, mà là sự khẳng định về sức mạnh toàn dân. Với ông Bảy, ông chỉ là một người may mắn được đứng trên bầu trời, còn dưới đất, những bà mẹ đào hầm, những cô gái thanh niên xung phong, những đứa trẻ liên lạc đều là những "anh hùng" không tên.
Ông thường bảo: "Tui bay trên cao, có máy bay che chắn, có đồng đội yểm trợ. Những người dân dưới đất hứng bom đạn thay cho mình mới thực là gan dạ". Tinh thần ấy chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời binh nghiệp của ông.
Có một câu chuyện kể rằng, chiếc Mig-17 của ông Bảy sau một trận đánh trở về bị trúng hơn 80 vết đạn. Thân máy bay lỗ chỗ như cái rây. Nhưng ông vẫn bình thản hạ cánh, bước xuống và hỏi thợ máy: "Này, vá lại cho tao, mai tao lại đi tiếp".
Ông không bao giờ coi mình là siêu nhân. Ông đánh giặc bằng cái bụng hào sảng của người miền Tây. Có lần, sau khi bắn rơi máy bay Mỹ, ông đáp xuống sân bay và nói với anh em:
"Đánh nhau trên trời nó cũng giống như mình đi săn vịt trời ở quê thôi. Phải kiên nhẫn, chọn đúng con đầu đàn mà quất, thì cả đàn nó loạn ngay."
Ngày 01 tháng 01 năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Sau những chiến công lừng lẫy ấy, Bác Hồ khi ấy đã chỉ thị rút ông về làm công tác quản lý và huấn luyện để giữ gìn "vốn quý" cho đất nước.


