Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã lùi xa vào quá khứ. Đất nước Việt Nam tươi đẹp đang từng ngày, từng giờ đổi mới nhưng ký ức hào hùng về một thời đạn lửa vẫn còn vọng mãi. Bởi đó là những năm tháng mà cả dân tộc ta đã làm nên một HUYỀN THOẠI. Huyền thoại của hai mươi năm "Máu nở thành hoa". Thử hỏi có "cuộc sinh nở nào đau đớn vậy - Rất tự hào mà xót tận trong da" (Tố Hữu - Việt Nam, Máu và Hoa). Tự hào bởi từ trong cuộc trường chinh ấy, giữa những ranh giới mong manh của

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Xót xa vì trong cuộc trường chinh ấy, có biết bao mất mát, hy sinh của đồng bào và chiến sĩ ta, bao nhiêu chàng trai, cô gái đã hy sinh cả tuổi xuân. Và đã hơn nửa thế kỷ đi qua, vẫn còn đâu đó những niềm vui không có cơ hội được tái sinh, những kiếp người, những số phận vì chiến tranh mà côi cút, neo đơn; vì chiến tranh mà không cất nổi bước chân đi về tương lai, hòa nhập cộng đồng...


Dù biết không có hình thức nghệ thuật nào, kể cả thi ca, có thể diễn tả hết được hiện thực của chiến tranh. Và những câu chuyện về nữ chiến sĩ giao liên mật giữa đô thành Sài Gòn trong cuốn sách này cũng không nằm ngoài sự bất lực ấy. Nhưng những hình ảnh giản dị mà vô cùng thông minh, gan dạ, những bước chân đi về như con thoi giữa mọi hiểm nguy trong vùng địch hậu của nhân vật nữ chiến sĩ giao liên Minh Nguyệt (Sáu Thắm) cùng đồng đội vẫn gợi lại những tình cảm mến thương, sự khâm phục trong mỗi chúng ta, bởi trước hết người ghi lại ký ức ấy là nhân chứng của chiến tranh. Tác giả từng là người lính trên mặt trận báo chí ở chiến trường miền Nam những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Và cảm xúc của tác giả được viết ra từ trong khói lửa, trong những năm tháng cùng nằm gai nếm mật với đồng bào, đồng chí, đồng đội mình giữa sào huyệt địch.


Hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, dân tộc Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới của hội nhập và phát triển. Điều đó lại càng không cho phép chúng ta lãng quên quá khứ, không được quên những sự hy sinh, mất mát của đồng bào, chiến sĩ ta, không được quên những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân và hạnh phúc của riêng mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc.


Chẳng còn bao lâu nữa là tròn 50 năm sự kiện lịch sử Tết Mậu Thân (1968 - 2018). Chúng ta không thể nào quên những hy sinh, mất mát của những năm tháng ấy. Ngày nay, có rất nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ không đi qua chiến tranh, mới chỉ hiếu được phần nào về sự hy sinh của thế hệ cha ông. Có lẽ vì vậy trách nhiệm của mỗi chúng ta là cần phải làm thật nhiều điều thiết thực và ý nghĩa để sự hy sinh vô giá ấy luôn được trân quý, tự hào, tạo thêm sức mạnh cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới.


Cuốn sách "Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch" của tác giả - nhà báo Cao Kim (Kim Toàn) là một trong những thông điệp Nhà xuất bản muốn gửi bạn đọc. Tác giả là một trong những nhà báo cách mạng vừa cầm bút, vừa cầm súng tại chiến trường, từng trực tiếp đối diện với sự khốc liệt của chiến tranh, giữa sự sống và cái chết để ghi lại các hình ảnh chân thực nhất về những con người bình dị, hoạt động thầm lặng mà sự hy sinh của họ có thể chúng ta không bao giờ viết hết được. Cuốn sách như một lời tri ân để lịch sử mãi nhớ và biết ơn về họ.

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Logged

dungnuocgiunuoc

Thành viên
*
Bài viết: 634


Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch« Trả lời #1 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2021, 05:08:33 pm »
Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch

Chiến tranh đang dần lùi xa. Mỗi lần giở lại những trang ghi chép tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi lại nhớ đến các chiến sĩ biệt động và giao liên mật tại nội đô mà tôi từng đồng cam, cộng khổ và viết về họ. Đó là những chàng trai, cô gái dễ thương, sống trung thực, hồn nhiên, vô tư, giàu tình cảm và đầy mưu trí, dũng cảm, lúc nào cũng sẵn sàng xả thân vì hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc.


Minh Nguyệt, nữ đội viên nhỏ tuổi nhất của Tổ giao liên mật C30 (thuộc đơn vị giao liên T4) là một chiến sĩ trong số đó.

Tôi gặp Minh Nguyệt (Sáu Thắm) lần đầu vào cuối năm 1966 và gặp lại em tại Sài Gòn - Gia Định giữa đợt chống càn ác liệt ở vùng ven đô sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968. Là con gái Sài Gòn chính gốc, có dáng mảnh mai, xinh xắn, nhanh nhẹn, thông minh và gan dạ, em được mọi người trong đơn vị thương mến ví như "cánh chim nhỏ" nơi đô thành ngày ấy.

Logged

dungnuocgiunuoc

Thành viên
*
Bài viết: 634


Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch« Trả lời #2 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2021, 05:09:06 pm »
Dọc ngang khắp chôn đô thành

Cư trú tại quận Ba, gia đình Minh Nguyệt là một trong nhiều gia đình sớm bị chính quyền Sài Gòn liệt vào danh sách "những gia đình Việt Cộng" và luôn bị theo dõi, đe dọa, khủng bố gắt gao. Cả nhà em có tới bảy người (gồm ba, má, chị Hai, chị Ba, anh Tư, anh Năm và Nguyệt) theo cách mạng, hoạt động kháng chiến. Noi gương ba, má và các anh chị, ngay từ khi đang là nữ sinh Trường Trung học Gia Long, Nguyệt đã hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Liên tiếp trong những năm từ 1964 đến 1967, Nguyệt vừa đi học vừa làm giao liên, bí mật chuyển tài liệu của tổ chức tới các cơ sở. Em rất vui khi được góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến chông xâm lược, vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Mấy tháng trước khi ta mở cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nguyệt bận rộn bởi luôn được giao việc cần cấp phải chạy đua với thời gian. Như "cánh chim nhỏ" tinh nhanh, sáng đi học, chiều tối em len lỏi khắp các ngõ ngách của đô thành. Biết tự bảo vệ mình và cơ sở cách mạng, Nguyệt luôn thay đổi cách ăn mặc và phương tiện đi lại cho phù hợp với từng chuyến công tác: lúc đi bộ, lúc đi xích lô, xe đạp, xe gắn máy, lúc đi xe đò, xe lam hoặc taxi... Một số lần, Nguyệt tương kế, tựu kế "nhờ" cả sĩ quan địch (từng là bạn học một thời) dùng xe quân sự Mỹ chở em đi làm nhiệm vụ mà chúng không hay đang ngồi cùng "Việt Cộng". Tận dụng lợi thế hợp pháp của nữ sinh và sự sơ hở của địch, không những em tiếp nhận, vận chuyển kịp thời, an toàn mọi tài liệu, hàng hóa do tổ chức giao mà còn khai thác thông tin từ một số sĩ quan, binh lính địch cung cấp cho lãnh đạo, chỉ huy. Nhiều lần, Nguyệt bị bọn mật thám theo dõi, chặn đường và bọn cảnh sát bao vây, rượt đuổi, nhưng lần nào em cũng biết dựa vào bà con, cô bác, khéo đánh lạc hướng kẻ địch, rồi mau lẹ biến mất trước sự ngơ ngác của chúng. Không ít lần, khi chuyển xong tài liệu, Nguyệt lánh vô nhà thờ Tân Định hay nhà thờ Chúa Cứu Thế, lẫn trong đám đông con chiên nghe cha giảng đạo. Hàng chục lần em vô chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Xá Lợi, mượn áo ni cô, ngồi cùng các tăng ni, phật tử và nhà sư tụng kinh, niệm Phật. Nơi Nguyệt thường ghé nhiều nhất sau mỗi chuyến đi là các rạp hát: có lúc em vô rạp Long Phụng cạnh chợ Sài Gòn (chợ Bến Thành); có lúc lại vô rạp Nam Quang bên chợ Đuổi, rạp Thanh Vân giáp chợ Hòa Hưng, hoặc rạp Đại Nam (nay là rạp Công Nhân) gần chợ cầu Muối... Nguyệt thản nhiên mua vé vô ghế ngồi như mọi người, giả bộ xem biểu diễn nghệ thuật, nhưng thực ra em kiếm chỗ để chợp mắt, trấn tĩnh sau những giờ phút căng thẳng, hồi hộp và cắt đứt sự đeo bám của bọn mật thám.


Một hôm, giữa khu Chợ Lớn đông đúc, Nguyệt không may bị địch phát hiện và đón bắt khi em từ một cửa hàng ăn sáng bước ra. Chúng đẩy em lên xe Jeép đậu sẵn, đưa thẳng về Tổng Nha cảnh sát Sài Gòn. Tay bị còng, vừa nhìn thấy mặt tên chiêu hồi, em bị chúng xô té sấp xuống chân tường đau điếng. Rồi chúng xúm lại xét hỏi, hăm dọa em. Giữa hang ổ của bọn quỷ dữ, sự nguy hiểm tính mạng ập đến quá nhanh, cảnh tra tấn, tù đày tưởng không thể tránh khỏi, nhưng em vẫn bình tĩnh nghĩ cách thoát thân. Biết chúng không có bằng chứng rõ rệt nào để giam giữ mình, em vừa nói lý lẽ với bọn sĩ quan địch, vừa dồn thêm tội chết cho kẻ chiêu hồi chỉ điểm là đứa vu cáo em và lừa gạt cả cảnh sát. Quả nhiên, bọn nó nghi ngờ nhau, cho kiểm tra lại thẻ học sinh và trường học của Nguyệt. Cuối cùng, chúng phải thả em về...


Cuối mùa Xuân năm 1967, Nguyệt được tổ chức đưa ra chiến khu học tập, rèn luyện một thời gian rồi lại trở về đô thành tiếp tục làm giao liên mật thuộc đơn vị giao liên T4 do ông Tư Tăng chỉ huy. Có sẵn giấy tờ hợp pháp là học sinh đang sống và học tại Sài Gòn, lần này, Nguyệt không chỉ hoạt động ở nội đô mà còn ra cả vùng ngoại ô phía bắc. Cứ đôi ba tuần hoặc một vài tháng, vào chủ nhật, trong những vai khác nhau, em tìm cách "qua mặt" các chốt kiểm soát của địch, mang tài liệu và một số hàng hóa (do cơ sở đóng gói, sắp đặt sẵn), lên xe đò như người thành phố về quê dự đám cưới, đám tang hay đám giỗ, để tới điểm hẹn ở huyện Hóc Môn hoặc Củ Chi. Giao "hàng" xong, em nhận tài liệu của tổ chức, rồi ra bắt xe đò hoặc xe ngựa và lại tìm cách vượt qua các chốt địch thường chặn xe xét hỏi, trở về trong ngày, kịp trao cho nơi nhận.

Logged

dungnuocgiunuoc

Thành viên
*
Bài viết: 634


Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2021, 05:10:27 pm »
Chim khôn thoát hiểm

Đầu mùa khô năm 1967, Minh Nguyệt được tổ chức giao nhiệm vụ mang một số "hàng" từ nội đô lên huyện Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh. "Hàng" gồm toàn văn phòng phẩm (giấy sáp, giấy đánh máy, giấy viết, sổ sách, bút bi, mực in) cùng các loại thuốc chữa bệnh, nhiều nhất là thuốc trị sốt rét. Mỗi thứ đều được cơ sở đóng gói, ngụy trang cẩn thận. Trước lúc Nguyệt lên đường, người phụ trách tổ công tác dặn dò em rất kỹ:

- Anh chị em mình ở trển đang rất cần những thứ này. Bọn địch coi đây là hàng cấm, ai mang nhiều đều bị chúng quy tội tiếp tay cho "Việt Cộng". Nguyệt hết sức cố gắng nhưng cần khéo léo và cẩn thận, nghe!

Ngồi trên xe đò với dáng một cô gái thị thành về thăm quê, Minh Nguyệt lo nghĩ đủ thứ. Khác với mọi lần, chuyến này không những em mang nhiều đồ hơn, đi xa hơn, mà lại tới ngay vùng "tam giác sắt" dày đặc các lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn, nơi thường xuyên có chiến sự. Biết bao sự bất trắc khó lường, nhưng do bình tĩnh, gan dạ và có kinh nghiệm hoạt động sau nhiều lần đi lại vùng ngoại ô phía bắc thành phố, Nguyệt lần lượt vượt qua các chốt kiểm soát của địch, đến điểm hẹn tại làng 14 Dầu Tiếng an toàn. Mừng thầm vì hoàn thành nhiệm vụ giao "hàng" cho cơ sở đầy đủ và đúng hẹn, Nguyệt tưởng khi trở về nội đô sẽ nhẹ nhàng, suôn sẻ, nhưng không ngờ, ngay sau đó, em phải đối mặt với một tình huống cực kỳ nguy hiểm.


Chuyện xảy ra không liên quan đến số "hàng" do Nguyệt mới mang đến. Giao "hàng" xong, Nguyệt rời Dầu Tiếng quay về bằng lối khác. Em lên xe lôi rẽ vô con đường đất đỏ gập ghềnh đầy cát bụi - nơi bọn địch rất ngán phải đi xe qua vì chúng thường bị du kích và bộ đội ta đắp mô, gài mìn, phục kích, tấn công bất ngờ. Vừa tới xã Thanh An, huyện Bến Cát (tỉnh Bình Dương), tình cờ Nguyệt gặp mấy bạn gái thân thiết từ chiến khu Bình Long tới. Bạn bè thời chiến, sống chết có nhau, lâu ngày gặp lại, ai cũng mừng rớt nước mắt. Mọi người chưa kịp hỏi nhau đôi câu thì một tốp trực thăng (máy bay lên thẳng) Mỹ, toàn loại "cá rô", "cá lẹp" từ đâu phành phạch lao tới quần đảo nhiều vòng trên đầu xóm và bìa rừng. Tiếng rít của đàn máy bay bay thấp và tiếng súng nổ gây náo động. Có lẽ địch phát hiện thấy đơn vị nào của ta và chúng định bao vây? Nguyệt đoán vậy và giục các bạn mình chạy lẹ vô rừng trước khi máy bay lượn lại. Em cũng rẽ nhanh vô đầu xóm. Quả nhiên, cả tốp máy bay ào ào sà xuống và đổ quân giữa trảng cỏ. Bọn lính Sài Gòn do sĩ quan Mỹ chỉ huy, hình thành hai mũi, vừa chặn bìa rừng vừa tiến vô xóm. Chắc có kẻ chỉ điểm nên chúng hung hăng sục vào từng nhà để tìm "Việt Cộng"


Nguyệt lánh trong một gia đình người quen. Em đứng phía sau nhà, định tìm cách ra khỏi vòng vây của địch, nhưng bọn chúng đã chặn hết lối. Nguyệt vội vô nhà tắm, múc nước xối xuống chân như đang tắm giặt. Ai dè, có bàn tay bất ngờ kéo mạnh tâm rèm cửa nhà tắm. Nguyệt giật mình nhìn ra: một thằng sĩ quan Mỹ cao, to, đeo lon trung tá, xuất hiện trước mặt. Nó chĩa súng ngắn vô em và la lên:

- Vixi! Vixi! (Việt Cộng! Việt Cộng!)

Nguyệt nhanh trí khoát tay và đáp lại nó bằng tiếng Anh:

- Nô Vixi! (không phải Việt Cộng!)

Ngạc nhiên thấy cô gái ở nơi heo hút, xa thị thành mà biết nói tiếng Anh, thằng Mỹ hạ súng xuống và kéo tay em vô nhà. Nó hỏi tên và nơi cư ngụ, em trả lời vanh vách. Thằng Mỹ gật đầu, rồi đưa tay chào em và quay đi. Em cũng chào lại nó, vẻ thân thiện. Nguyệt tưởng nó đi luôn, nhưng lát sau, nó quay lại cùng một viên thông dịch. Thằng Mỹ chỉ vô Nguyệt và biểu viên thông dịch rằng cô gái có vẻ không phải "Việt Cộng" vì là học sinh Sài Gòn và biết tiếng Anh. Viên thông dịch thốt lên: "Trời ơi, sếp lầm rồi! Việt Cộng ở khắp nơi và họ đâu có dốt nát! Nhiều Việt Cộng nói tiếng Anh như gió đó sếp! Tên sĩ quan Mỹ đổi sắc mặt. Nó nhún vai, trợn mắt và ra lệnh bắt ngay "tên nữ Việt Cộng". Bọn chúng kè tay Nguyệt, đẩy em lên xe Jeép và đưa tới giam giữ tại xã.


Trời tôi dần. Trước khi bay về nghỉ đêm tại thị xã Tây Ninh, tên sĩ quan Mỹ giao cho bọn lính Sài Gòn ở lại canh giữ Nguyệt cẩn thận để ngày mai nó gặp.

Nguyệt bị chúng còng tay, đẩy vô góc một ngôi nhà nhỏ chật chội - nơi tụ tập của bọn bảo an, dân vệ, muỗi nhiều như vãi trấu. Ba tên lính, mỗi tên một khẩu AR15, thay nhau canh chừng và kèm sát em. Suốt đêm ngồi bệt dưới nền nhà ẩm thấp trong tâm trạng căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi và bị muỗi rừng bu tới hành hạ, Nguyệt không sao chợp mắt nổi.


Hôm sau, mặt trời vừa tỏa nắng, tên sĩ quan Mỹ đã đáp máy bay trực thăng từ Tây Ninh đến. Nó xộc tới nơi giam giữ Nguyệt, ngó nhìn một lát và ra lệnh tên lính mở còng cho em. Nó sai khiến, dặn dò bọn lính, rồi lại vội bay đi. Nguyệt nghĩ, rất có thể chúng sẽ đưa em về Sài Gòn hoặc có âm mưu ác độc gì đó. Thấy tay mình không còn bị còng và thằng Mỹ đang vắng mặt, Nguyệt nảy ý định tìm cách thoát thân.


Lựa lúc mấy tên lính gác đang uể oải vì thức đêm, Nguyệt giả bộ nhăn nhó như đau bụng và nói:

- Mấy ông ơi, tôi là đàn bà, con gái đang có kinh. Bị mấy ông giam cầm từ hôm qua tới giờ không cho tắm rửa, thay đồ, tôi chịu hết nổi. Chắc mấy ông cũng thấy gớm...

- Vậy bây giờ cô muốn gì? - Một tên hỏi Nguyệt.

- Mấy ông cho tôi lại quán đằng kia mua băng vệ sinh; quán chỉ cách đây chừng vài trăm mét thôi - Nguyệt trả lời.

- Không, không thể cho cô được tự đi - Nó lắc đầu lia lịa.

- Vậy mấy ông dẫn tôi đi cho yên tâm - Nguyệt gợi ý luôn.

Vẻ như không muốn để cô gái làm dơ dáy nơi làm việc của chính quyền xã, bọn nó nhìn nhau và gật đầu.

Ba thằng lính, thằng nào cũng súng đạn lăm lăm, dẫn Nguyệt đến quán tạp hóa. Nguyệt vô mua hai miếng băng vệ sinh và lanh trí nói với bà chủ quán:

- Bác ơi, cảm phiền bác, cho cháu vô nhà tắm thay đồ một chút.

Thấy Nguyệt bị lính đi kèm, lúc đầu bà chủ quán cũng ngần ngại, nhưng khi nghe em nói mình đang có kinh, bị bắt vô cớ, từ hôm qua tới giờ chưa được thay đồ, bà la lớn:

- Trời đất ơi! Mấy ông lính "quốc gia" sao ác quá! Đàn bà có kinh mà không cho thay đồ thì chết người ta.

Mấy tên lính đưa mắt nhìn nhau, tên nọ hỏi tên kia. Một thằng hỏi chủ quán về cửa hậu ngôi nhà. Khi nghe bà chủ nói không có cửa hậu, nó mới cho Nguyệt đi thay đồ. Nguyệt để lại đôi dép ngoài cửa làm tin với bọn lính rồi lẳng lặng vô nhà tắm. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Nguyệt: bằng mọi cách, sống chết gì lúc này em cũng phải thoát khỏi tay địch. Nhìn gian nhà tắm trống lốc, bức tường bao không cao và không có mái lợp, phía sau là đồng ruộng, Nguyệt tính ngay đến cách vượt tường. Em với tay, định vọt lên liền, nhưng không có thế đứng và rất khó bám. Ngó vô góc bếp thấy mấy chiếc ghế nhỏ của gia đình chủ quán dùng để ngồi ăn cơm, Nguyệt lấy ba chiếc kê chồng lên nhau cạnh tường nhà tắm. Rồi lập tức, em leo lên và nhảy tót xuống phía ngoài.


Chân vừa chạm đất, Nguyệt run lên vì lo lắng, hồi hộp và do thiếu ăn, thiếu ngủ từ hôm qua dồn lại. Nhưng đây là phút sống chết, không có đường lui, em phải liều mạng, phải tranh thủ từng giây, nếu không sẽ mất cơ hội. Cố trấn tĩnh, Nguyệt dồn hết sức lực, cúi người lao nhanh giữa khu ruộng hoang. Chạy được chừng vài trăm mét, em nghe tiếng súng AR15 nổ rộ lên từ phía quán tạp hóa. Bọn địch đã phát hiện "Việt Cộng" chạy trốn. Chúng la lôi, báo động ầm ĩ. Các họng súng đều tập trung chĩa về phía Nguyệt, xả đạn không tiếc. Mặc đạn bay chiu chiu, ràn rạt đằng trước, đằng sau, trên đầu, dưới chân như bủa vây quanh mình, Nguyệt vẫn chạy, hướng tới khu vườn rậm của xóm trước mặt, cắt qua góc đồng trống, em chạy chênh chếch, lúc ẩn, lúc hiện bên các lùm cây. Có lúc em nằm xuống, lăn mấy vòng tránh đạn rồi lại bật dậy chạy tiếp. "Trong giây phút này, rất có thể mình sẽ ngã xuống vì dính đạn kẻ thù, mình xác định rồi. Nhưng không sao, mình cứ chạy, ráng chạy nữa, chạy mới thoát, nhất định không để địch bắt lại...". Suy nghĩ ấy theo sát từng bước chân trần rớm máu của Nguyệt, giúp em thêm sức mạnh vượt lên.


Chỉ trong chốc lát, Nguyệt lọt vô xóm Xoài, một xóm nhỏ, nhà dân thưa thớt, có nhiều cây xanh. Tiếng la ó của địch nghe nhỏ dần, nhưng tiếng súng bắn đuổi từ phía sau vẫn nổ ran và đạn vẫn bay tới vèo vèo. Mệt đến đứt ruột, đứt gan, đôi chân như rã rời, muốn khuỵu xuống mà em không thể dừng bước. Men theo bờ vườn, vượt qua một đoạn rào kẽm gai của "ấp chiến lược" cũ bị phá đổ, Nguyệt cố chạy vô ngôi nhà gần đó, nhưng cửa chốt chặt. Em tạt luôn qua hai, ba nhà khác, nhà nào cũng cửa đóng, then cài. (Em biết, lâu nay, mỗi khi nghe súng nổ ran, bà con nơi đây thường đóng cửa, ở trong nhà hoặc xuống hầm đề phòng những chuyện khó lường).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn