Khác

Cánh tay để lại trên đồng Thái Mỹ (tư liệu công khai về Kiều Văn Niết)

Lời kể/ký ức của Anh hùng LLVTND Kiều Văn Niết về những năm tháng từ cậu bé nghèo đi ở đợ, làm giao liên, nấu cơm cho du kích, rồi trở thành chiến sĩ thông tin, chiến đấu kiên cường ở Củ Chi; đặc biệt là trận đánh năm 1970 khi ông bị thương mất một cánh tay nhưng vẫn tìm đường rút về căn cứ và tiếp tục phục vụ chiến đấu.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 3 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kiều Văn Niết, con đường đến với cách mạng không bắt đầu bằng những chiến công lớn. Nó bắt đầu từ một tuổi thơ nghèo khó, từ nỗi đau mất cha, từ những năm tháng đi ở đợ cho điền chủ và từ ý nghĩ rất thật của một cậu bé Nam Bộ: chỉ có theo cách mạng, cầm súng chiến đấu thì mới giải phóng được quê hương, mới trả được thù nhà và thoát khỏi cảnh đời bị áp bức.

Cha ông bị Mỹ - ngụy giết hại, mẹ quanh năm đi làm thuê. Từ khi còn rất nhỏ, Kiều Văn Niết đã phải sống cảnh thiếu thốn, lam lũ. Vì vậy, khi tuổi thiếu niên vừa lớn lên giữa vùng Củ Chi ác liệt, ông không nghĩ nhiều đến chuyện riêng. Ông chỉ mong được vào du kích, được cầm súng đánh giặc ngay trên quê hương mình.

Nhưng lúc mới vào lực lượng, các chú chưa giao súng cho ông ngay. Năm mới khoảng 16 tuổi, Kiều Văn Niết được phân công làm giao liên và nấu cơm. Với một cậu trai đang hừng hực ý chí chiến đấu, đó là điều làm ông buồn. Ông nhìn các chú, các anh chuẩn bị mìn, súng, chông, hầm hố mà trong lòng sốt ruột. Ông muốn được ra trận, muốn trực tiếp đánh giặc, nhưng vẫn phải nén lại, làm tốt việc được giao.

Những ngày ấy ở xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, chiến tranh bao trùm từng bờ ruộng, vạt trảng, bìa rừng. Mùa khô nắng cháy da. Mùa mưa nước ngập hầm, du kích phải treo võng trên nhánh cây để ngủ. Địch ruồng bố liên tục. Máy bay, pháo, cối, xe thiết giáp, biệt kích, dân vệ, bảo an bủa vây khắp nơi. Một người giao liên trẻ tuổi như Kiều Văn Niết phải đi qua những đường mòn, bờ ruộng, hầm bí mật, đồn bốt, chốt kiểm soát; chỉ cần sơ hở là có thể bị bắt hoặc hy sinh.

Công việc giao liên không ồn ào nhưng vô cùng nguy hiểm. Hằng ngày, ông đi khắp các xã, các cơ sở, chuyển công văn, thư tín, chỉ thị phục vụ chỉ đạo chiến đấu, đồng thời nắm tình hình địch. Những lá thư nhỏ giấu trong người có thể quyết định cả một trận đánh, một lần chuyển quân, một kế hoạch chống càn. Bởi vậy, người giao liên phải nhanh, gan, thuộc địa bàn và biết ứng biến. Đi sai đường có thể gặp mìn. Đi chậm có thể lỡ lệnh. Đi ẩu có thể làm lộ cơ sở.

Ngoài đưa thư, Kiều Văn Niết còn cùng đồng đội trinh sát trong các ấp chiến lược, gài mìn, cắm chông chặn đánh địch, làm cảnh vệ, tháp tùng cán bộ vào các xã, ấp tuyên truyền, giáo dục nhân dân. Những công việc ấy giúp ông trưởng thành rất nhanh. Từ cậu bé chỉ mong được cầm súng, ông dần hiểu rằng đánh giặc không chỉ có nổ súng. Giữ được đường dây, bảo vệ cán bộ, đưa được mệnh lệnh qua vòng vây, giữ bí mật cho cơ sở cũng là chiến đấu.

Đến cuối năm 1968, ông chính thức trở thành chiến sĩ của đơn vị bộ đội địa phương Củ Chi. Từ đây, Kiều Văn Niết được bước vào những trận đánh mà mình từng mong đợi. Ông cùng đồng đội đánh đồn, chống càn, phục kích, trinh sát, bảo vệ cơ sở. Củ Chi khi ấy là vùng đất thép thật sự: dưới mặt đất là hầm hào, địa đạo, bãi mìn; trên mặt đất là những cuộc càn quét, pháo kích, bom đạn và sự sống chết chỉ cách nhau trong gang tấc.

Một trận đánh tiêu biểu trong đời chiến đấu của ông diễn ra ngày 17 tháng 8 năm 1969 tại Vườn Trầu, xã Phước Thanh. Hôm đó, địch dùng nhiều xe tăng và bộ binh Mỹ tổ chức càn vào xã. Tổ của Kiều Văn Niết phải rút xuống hầm bí mật. Từ sáng đến trưa, địch dùng xe tăng phun xăng, đốt sạch cây cối xung quanh, rồi cho bộ binh lùng sục. Máy bay tiếp tục ném bom, bắn phá. Trong hầm, người lính chỉ có thể nghe tiếng xích sắt nghiến trên mặt đất, tiếng bom nổ, tiếng địch la hét và chờ giây phút nguy hiểm nhất ập xuống.

Đến đầu giờ chiều, một xe tăng càn qua làm sập nắp hầm. Bảy lính Mỹ theo sau phát hiện miệng hầm, la hét và bắn loạn xạ. Tình thế lúc ấy gần như không còn đường lùi. Một đồng đội nhảy lên dùng B40 bắn trả nhưng quả đạn không nổ. Ngay lập tức, Kiều Văn Niết dùng AK quét một băng đạn, tiêu diệt toán lính Mỹ vừa phát hiện hầm. Rồi ông lắp quả B40 khác vào súng của đồng đội, bắn cháy chiếc xe tăng đang lao vào trận địa. Trong khói lửa, sự nhanh trí của ông giúp cả tổ giành lại thế chủ động giữa vòng vây.

Nhưng trận đánh làm người dân Củ Chi nhớ mãi về Kiều Văn Niết lại là trận Bàu Tre tháng 10 năm 1970. Đêm ấy, đơn vị ông tập kích bọn nghĩa quân tại đồn Bàu Tre, ấp Bàu Điều, xã Tân An Hội. Trận đánh diễn ra rất nhanh và ác liệt. Kiều Văn Niết lao vào quán nhậu nơi lính địch đang tụ tập, ném lựu đạn, rồi dùng AK bắn tiếp những tên chạy thoát. Đồng đội phối hợp đánh từ nhiều hướng, địch hoảng loạn rút chạy.

Khi có lệnh rút quân, cối 81 ly từ đồn Bàu Tre bắn ra liên tục. Chưa kịp rời trận địa, Kiều Văn Niết bị một quả đạn nổ rất gần. Khẩu AK bị mảnh đạn đánh bay. Nhìn xuống, ông thấy cánh tay phải của mình gần như đứt lìa, chỉ còn dính một mảnh da. Máu tuôn xối xả, ướt đẫm nửa người.

Trong giây phút ấy, người bình thường có thể ngất đi vì đau và sợ. Nhưng Kiều Văn Niết vẫn nén đau, nhặt súng quàng lên vai, tay trái ôm lấy cánh tay phải bị thương, tìm đường chạy về cơ sở mật. Ông biết nếu nằm lại, địch có thể bắt sống. Nếu không mang được súng ra khỏi trận địa, vũ khí có thể rơi vào tay địch. Nếu không về được căn cứ, đồng đội sẽ tưởng ông đã hy sinh.

Ông tìm đến nhà chị Tư Lẽo, một cơ sở của ta. Nhìn thấy ông đầy máu, chị hoảng hốt kéo ông vào nhà. Trong cơn đau, Kiều Văn Niết chỉ kịp nói chị lấy dao cắt tay giúp cho khỏi vướng. Chị Tư Lẽo không làm vậy. Chị lấy khăn quấn chặt cánh tay đứt, buộc ga-rô rồi chỉ đường cho ông trở về căn cứ ở ấp Trung Viết, xã Phước Hiệp.

Bên ngoài, pháo sáng rực trời. Súng cối bắn ra đồng trống ầm ầm. Kiều Văn Niết nghĩ nếu có địch phục kích ngoài trảng, cánh tay bị thương lủng lẳng sẽ làm mình khó chiến đấu, khó chạy, khó thoát. Vì thế, trên đường rút, ông đặt cánh tay bị thương xuống bờ đất, dùng chân đè lên rồi cố giật mạnh cho đứt hẳn. Ông làm mấy lần, đau đến ngất đi, tỉnh lại rồi lại cố. Nhưng cánh tay vẫn không rời. Gần sáng, đồng đội tìm thấy ông nằm bất tỉnh bên bờ ruộng, máu đã thấm đẫm đất.

Ông được đưa về cắt bỏ tay, băng bó tạm rồi dân công xã khiêng đi bệnh viện quân khu. Đường đi hơn hai chục cây số, địch còn ruồng bố, biệt kích còn phục, việc chuyển một thương binh nặng qua đồng ruộng, kênh rạch, vùng kiểm soát của địch là vô cùng nguy hiểm. Nhưng đồng đội và nhân dân không bỏ ông lại. Họ đưa ông đi bằng tất cả tình nghĩa của chiến trường.

Mất một cánh tay ở tuổi chưa đầy hai mươi, Kiều Văn Niết không cho phép mình gục xuống. Trong ba tháng điều trị, ông học văn hóa, tập viết bằng tay trái, tập làm mọi việc bằng bàn tay còn lại: kéo nước, cuốc đất, làm vườn tăng gia. Vết thương đau nhức, sinh hoạt khó khăn, nhưng ông không muốn trở thành gánh nặng cho đơn vị. Cấp trên đề nghị đưa ông ra Bắc an dưỡng, ông kiên quyết xin ở lại miền Nam, tiếp tục phục vụ chiến đấu.

Từ đó, Kiều Văn Niết trở lại với công việc thông tin, liên lạc quen thuộc. Một người chỉ còn một tay vẫn đi đưa thư, chuyển lệnh, nắm tình hình, phục vụ chiến đấu trên địa bàn Củ Chi. Từ tháng 2 năm 1971 đến cuối năm 1974, ông vượt qua nhiều khó khăn, chuyển hàng trăm thư hỏa tốc và rất nhiều thư thường cho các xã, cơ quan trong huyện, bảo đảm an toàn công văn, chỉ thị của Đảng. Có lúc đi đêm đụng địch bất ngờ, ông vẫn tìm cách thoát ra để chuyển lệnh kịp thời.

Cuối năm 1974, Trung đoàn Gia Định được thành lập. Kiều Văn Niết được điều về đội hỏa tốc, rồi làm đội trưởng thông tin, bảo đảm liên lạc phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong những ngày chuẩn bị và tiến công cuối cùng, thông tin liên lạc là mạch máu của chiến dịch. Máy móc, dây thông tin còn thiếu, chiến trường biến động nhanh, nhưng đội thông tin của ông vẫn phải bảo đảm cho mệnh lệnh đến đúng nơi, đúng lúc. Người chiến sĩ từng mất một tay trên đồng Củ Chi tiếp tục góp phần vào Đại thắng mùa Xuân năm 1975 bằng nhiệm vụ thầm lặng ấy.

Sau giải phóng, Trung đoàn Gia Định đổi thành Trung đoàn 2 An ninh vũ trang, rồi thuộc lực lượng Công an nhân dân vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng. Kiều Văn Niết tiếp tục công tác, sau đó chuyển về Kiên Giang và nghỉ hưu tại Rạch Giá. Năm 1976, khi mới 25 tuổi, ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhiều năm sau, trên thân thể ông vẫn còn những vết thương chằng chịt. Trái gió trở trời, cánh tay đã mất và các vết thương cũ lại đau nhức. Nhưng trong căn nhà nhỏ ở Rạch Giá, người anh hùng “đất thép” vẫn mộc mạc, đôn hậu, kể chuyện đời mình bằng giọng bình thản. Ông không kể để làm lớn nỗi đau của riêng mình. Ông kể như nhắc lại một thời mà người dân Củ Chi, từ mẹ nuôi, cơ sở mật, giao liên, du kích đến bộ đội địa phương, đều phải sống và chiến đấu giữa bom đạn để giữ quê hương.

Câu chuyện của Kiều Văn Niết vì vậy không chỉ là câu chuyện về một người lính mất một cánh tay. Đó là câu chuyện về ý chí của một con người đi lên từ nghèo khó, từ cậu bé đi ở đợ đến Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đó cũng là câu chuyện về Củ Chi, vùng đất mà hầm hào, bãi mìn, cơ sở mật và lòng dân đã nuôi dưỡng những người lính kiên cường.

“Cánh tay để lại trên đồng Thái Mỹ” nhắc người nghe rằng trong chiến tranh, có những chiến công được ghi bằng trận đánh, bằng số xe tăng bị bắn cháy, bằng số công văn hỏa tốc được chuyển an toàn. Nhưng cũng có những chiến công được ghi trên thân thể con người: một cánh tay để lại trên bờ ruộng, một bàn tay trái tập viết lại từ đầu, một người thương binh từ chối ra Bắc an dưỡng để ở lại chiến trường. Chính những điều ấy làm nên vẻ đẹp của thời hoa lửa: đau đớn thật, mất mát thật, nhưng lòng tin và ý chí cũng thật đến tận cùng.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Quân đội nhân dân: Kiều Văn Niết được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương Anh hùng LLVTND ngày 24/1/1976 khi vừa tròn 25 tuổi; ông sinh trong gia đình nông dân, cha bị Mỹ - ngụy giết hại, từ nhỏ đi ở đợ, năm 1968 gia nhập bộ đội địa phương Củ Chi khi 17 tuổi.

Nguồn QĐND cũng ghi ông từng làm giao liên, đưa công văn, thư tín, trinh sát tại các ấp chiến lược, làm cảnh vệ; trận Vườn Trầu ngày 17/8/1969, ông cùng tổ chiến đấu chống càn, diệt lính Mỹ và bắn cháy xe tăng.

Chi tiết trận Bàu Tre, việc ông bị đạn cối làm gần đứt lìa cánh tay phải, chạy về cơ sở chị Tư Lẽo, được chuyển về căn cứ, cắt bỏ tay và sau đó vẫn tiếp tục phục vụ liên lạc được đối chiếu từ Báo Quân đội nhân dân và Báo Người Lao Động.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn