CÁNH TAY Ở LẠI ĐÔNG KHÊ
Bài viết tái hiện câu chuyện có thật về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu trong trận Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950. Bị đạn địch bắn dập nát cánh tay phải, người chiến sĩ trẻ vẫn nhờ đồng đội chặt phần tay bị thương, tiếp tục ôm khối bộc phá khoảng 12kg đánh phá lô cốt, mở đường cho đơn vị tiến công. Câu chuyện khắc họa ý chí chiến đấu phi thường, lòng quả cảm và tinh thần “Trái tim còn đập thì còn chiến đấu” của người lính Việt Nam.

Tác giả: Phạm Quỳnh Phương
Nơi công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai
Chức vụ: Bí thư Chi đoàn giáo viên
Có những mất mát khiến một con người phải dừng lại. Nhưng cũng có những con người, ngay cả khi một phần cơ thể đã nằm lại chiến trường, vẫn tiếp tục tiến về phía trước.
Trong Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950, giữa trận đánh Đông Khê ác liệt, có một người chiến sĩ trẻ bị đạn quân thù bắn dập nát cánh tay phải. Máu chảy nhiều, cánh tay gần như lìa khỏi cơ thể. Nhưng thay vì rời trận địa, anh nhờ đồng đội chặt đứt phần cánh tay đã bị thương để tiếp tục ôm khối bộc phá lao lên đánh lô cốt địch.
Người chiến sĩ ấy là La Văn Cầu.
La Văn Cầu là người dân tộc Tày, quê ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Tuổi thơ của ông đi qua trong những năm tháng quê hương còn chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Cha mất sớm, cuộc sống gia đình nghèo khó, nhưng cũng chính những năm tháng ấy đã sớm hun đúc trong người thanh niên miền biên viễn lòng căm thù giặc và khát vọng được cầm súng bảo vệ quê hương.
Năm 1948, khi mới mười sáu tuổi, La Văn Cầu tình nguyện xin nhập ngũ. Vì chưa đủ tuổi và người quá nhẹ cân, lần đầu ông không được nhận. Người thanh niên ấy đã khai tăng thêm hai tuổi để được đứng trong hàng ngũ quân đội. Ngày 20 tháng 9 năm 1948, ông được bổ sung về đơn vị chiến đấu. Từ đó, chàng trai trẻ của núi rừng Cao Bằng bắt đầu cuộc đời người lính.
Hai năm sau, La Văn Cầu bước vào trận đánh sẽ theo ông suốt phần đời còn lại.
Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã bước sang một giai đoạn mới. Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở Chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khai thông biên giới Việt – Trung, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc và đưa cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới.
Đông Khê được chọn làm mục tiêu mở màn.
Đó là một cứ điểm quan trọng của quân Pháp trên Đường số 4. Muốn phá vỡ hệ thống phòng thủ biên giới của địch, quân ta phải đánh được Đông Khê.
Ngày 16 tháng 9 năm 1950, trận đánh bắt đầu.
Tiếng súng vang lên giữa núi rừng Cao Bằng. Quân ta liên tục tiến công, nhưng hệ thống công sự và hỏa lực của quân Pháp chống trả quyết liệt. Trong ngày đầu, bộ đội mới chiếm được một số vị trí phòng thủ bên ngoài. Sang ngày 17 tháng 9, cuộc chiến bước vào thời điểm đặc biệt ác liệt.
Khi ấy, La Văn Cầu thuộc Trung đội 2, Đại đội 671, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174. Tổ bộc phá gồm năm người do ông làm tổ trưởng được giao một nhiệm vụ vô cùng quan trọng: phá hàng rào, tiêu diệt lô cốt đầu cầu, mở cửa cho bộ đội xung phong vào cứ điểm.
Phía trước họ là những lớp hàng rào và công sự của quân Pháp.
Phía sau là cả đội hình đang chờ cửa mở.
Những người lính bộc phá bắt đầu tiến lên.
Địch phát hiện và tập trung hỏa lực bắn dữ dội về phía cửa mở. Trong quá trình chiến đấu, những người đồng đội trong tổ của La Văn Cầu lần lượt hy sinh hoặc bị thương. Bộc phá không còn đủ, ông cùng đồng đội tìm cách tháo cả mìn của địch để tiếp tục phá hàng rào.
Từng lớp vật cản được mở.
Nhưng lô cốt đầu cầu vẫn còn đó.
Nếu không tiêu diệt được hỏa điểm này, bộ đội phía sau rất khó có thể tiến lên.
La Văn Cầu tiếp tục mang bộc phá lao về phía trước.
Rồi đạn địch bắn trúng anh.
Một viên trúng vào má phải.
Một viên khác đánh dập nát cánh tay phải.
Người chiến sĩ trẻ ngã xuống và bất tỉnh.
Giữa trận địa đầy tiếng súng, La Văn Cầu tỉnh lại. Sau này, chính ông kể rằng lúc ấy ông đưa tay trái sờ lên đầu, lên ngực, nhận ra mình vẫn còn sống và định tiếp tục lao lên. Nhưng cánh tay phải đã mất cảm giác, bị thương nặng và gần như chỉ còn dính vào cơ thể.
Nhiệm vụ vẫn chưa hoàn thành.
Lô cốt vẫn còn.
Đồng đội vẫn đang chờ cửa mở.
La Văn Cầu không chịu rời trận địa.
Anh quay lại tìm đồng đội và đề nghị giúp mình xử lý cánh tay đã bị dập nát.
Người giúp anh là Tiểu đội trưởng Nông Văn Pheo.
Giữa chiến trường Đông Khê, người đồng đội buộc phải làm một việc mà có lẽ cả đời mình không thể quên: chặt đứt phần cánh tay phải gần lìa khỏi cơ thể của La Văn Cầu để anh có thể tiếp tục chiến đấu.
Máu tiếp tục chảy.
Đau đớn đến tận cùng.
Nhưng người lính trẻ vẫn không dừng lại.
Trong hồi ức nhiều năm sau, La Văn Cầu nói về khoảnh khắc ấy bằng một suy nghĩ giản dị:
“Trái tim còn đập thì còn chiến đấu.”
Một cánh tay đã không còn.
Anh dùng cánh tay còn lại ôm khối bộc phá nặng khoảng 12kg.
Rồi tiếp tục tiến lên.
Trước mặt anh là lô cốt quân Pháp.
Sau lưng anh là đồng đội.
La Văn Cầu áp sát mục tiêu, đưa khối bộc phá vào lô cốt rồi giật nụ xòe.
Một tiếng nổ lớn vang lên giữa trận địa.
Lô cốt đầu cầu bị phá hủy.
Cửa mở đã được khai thông.
Người chiến sĩ trẻ kiệt sức và ngất đi.
Khi tỉnh lại, điều anh nhìn thấy là đồng đội đang vượt qua cửa mở, xông lên đánh chiếm trận địa.
Lúc ấy, có lẽ không cần thêm một lời nào nữa.
Nhiệm vụ của người chiến sĩ bộc phá đã hoàn thành.
Sau những trận chiến đấu quyết liệt từ ngày 16 đến 18 tháng 9 năm 1950, cứ điểm Đông Khê bị quân ta tiêu diệt. “Cánh cửa thép” trên tuyến Đường số 4 bị phá vỡ. Chiến thắng Đông Khê tạo điều kiện để quân ta tiếp tục thực hiện kế hoạch “đánh điểm, diệt viện”, tiến tới giành thắng lợi trong toàn Chiến dịch Biên giới.
Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950 đã trở thành một bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Quân đội ta trưởng thành thêm một bước, từ thế bị bao vây từng bước giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Biên giới được khai thông, căn cứ địa Việt Bắc được củng cố và mở rộng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Và giữa chiến thắng ấy, có một người lính trẻ đã để lại cánh tay phải của mình tại Đông Khê.
Nhưng khác với Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện hay Bế Văn Đàn, câu chuyện của La Văn Cầu không kết thúc trên chiến trường.
Anh đã sống.
Sống với một cánh tay.
Sống để tiếp tục chiến đấu và công tác.
Sống để trở thành người kể lại câu chuyện của chính thế hệ mình.
Năm 1952, La Văn Cầu được tuyên dương Anh hùng. Trong Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tên người chiến sĩ trẻ của trận Đông Khê được nhắc đến cùng những tấm gương chiến đấu xuất sắc của quân đội.
Sau chiến tranh, người lính mất cánh tay phải năm nào tiếp tục cuộc đời quân ngũ và sau này mang quân hàm Đại tá.
Có một hình ảnh đặc biệt đã đi cùng ông suốt phần đời còn lại.
Mỗi khi thực hiện động tác chào trong quân đội, La Văn Cầu chào bằng tay trái.
Không phải vì ông quên điều lệnh.
Mà bởi cánh tay phải của người chiến sĩ đã nằm lại ở Đông Khê từ mùa thu năm 1950.
Hơn bảy thập kỷ trôi qua, người chiến sĩ trẻ năm ấy đã trở thành một chứng nhân của lịch sử. Ông sống đủ lâu để nhìn thấy một đất nước từng phải chiến đấu giành từng ngọn đồi, từng con đường biên giới trở thành một đất nước độc lập, thống nhất và hòa bình.
Ngày 24 tháng 6 năm 2026, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.
Một cuộc đời gần một thế kỷ khép lại.
Nhưng có một phần của cuộc đời ấy đã ở lại Đông Khê từ năm ông mới mười tám, mười chín tuổi.
Một cánh tay.
Nếu nhìn vào một con người, đó là một mất mát không gì có thể bù đắp.
Nhưng nếu nhìn vào lịch sử, cánh tay ấy đã trở thành một phần ký ức của cả dân tộc.
Ngày hôm nay, những đứa trẻ Việt Nam có thể đưa cả hai tay lên viết những dòng chữ đầu tiên trong lớp học. Những người trẻ có thể dùng đôi tay mình để dựng xây, sáng tạo, lựa chọn công việc và theo đuổi những ước mơ riêng.
Có lẽ ít ai trong chúng ta phải đứng trước một lựa chọn khắc nghiệt như người chiến sĩ trẻ ở Đông Khê năm ấy.
Và cũng không ai mong những thế hệ sau phải trải qua lựa chọn ấy thêm một lần nào nữa.
Bởi mục đích cuối cùng của những cuộc chiến đấu năm xưa chính là để những thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình.
Nhưng hòa bình càng dài lâu, ký ức càng không được phép phai mờ.
Những “Câu chuyện thời hoa lửa” cần được kể lại không phải để tô đậm sự khốc liệt của chiến tranh, mà để mỗi chúng ta hiểu cái giá của những điều hôm nay tưởng như rất bình thường.
Một con đường bình yên.
Một mái trường không có tiếng bom.
Một đường biên giới của một quốc gia độc lập.
Và quyền được sống trọn vẹn một cuộc đời.
Mùa thu năm 1950, La Văn Cầu đã để lại cánh tay phải của mình trên chiến trường Đông Khê.
Nhưng người chiến sĩ ấy không để lại phía sau ý chí của mình.
Ông tiếp tục sống, tiếp tục cống hiến và mang câu chuyện Đông Khê đi qua hơn bảy mươi năm hòa bình.
Để rồi mỗi khi nhìn thấy hình ảnh người Anh hùng quân đội giơ bàn tay trái lên chào Tổ quốc, chúng ta có thể hiểu vì sao bàn tay phải không còn ở đó.
Bởi cánh tay ấy đã ở lại Đông Khê – nơi một người lính trẻ từng tin rằng, khi trái tim còn đập, người chiến sĩ vẫn còn có thể chiến đấu.


