cánh thư cuối ở chiến khu
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giữa núi rừng chiến khu đầy bom đạn và gian khổ, những lá thư từ hậu phương gửi ra tiền tuyến luôn là nguồn động viên lớn lao đối với người lính. Có những người làm nhiệm vụ chuyển thư, giữ liên lạc cho các đơn vị, âm thầm góp sức cho cuộc kháng chiến mà ít ai biết đến. Câu chuyện về chiến sĩ thông tin Vũ Ngọc Hải cùng cánh thư cuối nơi chiến khu năm ấy đã trở thành một ký ức xúc động của thời hoa lửa.
Vũ Ngọc Hải sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại tỉnh Bắc Giang. Từ nhỏ, anh đã ham học và đặc biệt yêu thích môn vật lý, thích tìm hiểu về máy vô tuyến điện. Khi chiến tranh lan rộng, anh gác lại ước mơ vào đại học để tình nguyện nhập ngũ.
Nhờ nhanh nhẹn và có kiến thức kỹ thuật, Hải được biên chế vào đơn vị thông tin liên lạc. Công việc của anh là bảo đảm liên lạc giữa các đơn vị chiến đấu trong chiến khu bằng máy điện đài và chuyển công văn, thư từ khi cần thiết.
Những người lính thông tin luôn được ví như “mạch máu” của chiến trường. Nếu đường dây liên lạc bị cắt đứt, việc chỉ huy tác chiến có thể gặp nguy hiểm. Vì thế, họ thường xuyên phải băng rừng sửa dây, giữ máy hoạt động giữa bom đạn.
Chiến khu nơi Hải công tác nằm sâu trong rừng già Tây Nguyên. Ban ngày, mọi người ngụy trang hầm lán dưới tán cây rậm rạp để tránh máy bay trinh sát. Ban đêm, tiếng máy điện đài lại vang lên đều đặn trong căn hầm nhỏ.
Ngoài nhiệm vụ thông tin, Hải còn thường giúp đồng đội đọc thư nhà vì nhiều chiến sĩ lúc ấy chưa biết chữ nhiều. Mỗi lần nhận được thư từ hậu phương, ai cũng háo hức như nhận được món quà quý giá nhất.
Có người nghe tin mẹ khỏe lại sau cơn bệnh, có người nhận tin vợ vừa sinh con đầu lòng. Giữa chiến tranh khốc liệt, những lá thư nhỏ bé ấy trở thành nguồn sức mạnh giúp người lính vượt qua gian khổ.
Hải thường cẩn thận cất những lá thư vào túi chống ẩm rồi mang đến từng đơn vị. Anh nói:
“Thư nhà là niềm hy vọng của các anh em ngoài mặt trận.”
Một ngày đầu năm 1973, đơn vị nhận được lệnh khẩn phải chuyển công văn quan trọng cùng nhiều thư từ tới một tiểu đoàn đang chiến đấu ở khu vực giáp biên giới. Đường đi rất nguy hiểm vì địch đang mở cuộc càn quét lớn.
Biết rõ hiểm nguy phía trước, Hải vẫn xung phong lên đường. Anh cẩn thận bọc công văn và thư vào túi ni lông chống nước rồi bắt đầu hành trình xuyên rừng.
Suốt hai ngày liền, anh băng qua nhiều khu vực bị bom cày xới tan hoang. Có những đoạn đường cây rừng cháy đen sau các trận rải chất độc hóa học. Dù mệt mỏi và thiếu ăn, anh vẫn cố gắng đi thật nhanh để kịp thời gian.
Đến chiều ngày thứ ba, khi chỉ còn cách điểm hẹn không xa, anh bất ngờ gặp một trận bom tọa độ của địch. Tiếng nổ vang trời làm đất đá tung mù mịt khắp cánh rừng.
Hải nhanh chóng lao xuống một hố bom để tránh mảnh đạn. Nhưng một cây lớn bị sức ép bom làm gãy đổ, chắn ngang lối đi và làm anh bị thương ở chân.
Máu chảy nhiều khiến việc di chuyển trở nên vô cùng khó khăn. Dù vậy, anh vẫn cố ôm chặt túi tài liệu và thư từ bên người.
Trong màn đêm lạnh giữa rừng sâu, người chiến sĩ trẻ dùng cành cây làm gậy, tập tễnh tiếp tục lên đường. Anh hiểu rằng phía trước còn rất nhiều đồng đội đang chờ tin tức từ hậu phương và mệnh lệnh từ cấp trên.
Gần sáng hôm sau, Hải cuối cùng cũng tới được đơn vị cần liên lạc. Khi trao tận tay túi công văn và những lá thư cho cán bộ đơn vị, anh mới gục xuống vì kiệt sức.
Các chiến sĩ vội đưa anh đi cứu chữa, nhưng vết thương quá nặng cộng với nhiều ngày liên tục thiếu ăn, mất máu khiến anh không qua khỏi.
Trước lúc nhắm mắt, Hải vẫn cố hỏi:
“Các anh em… đã nhận được thư chưa?”
Người chỉ huy nghẹn ngào nắm chặt tay anh:
“Nhận đủ rồi đồng chí ạ.”
Nghe vậy, người chiến sĩ trẻ mỉm cười nhẹ rồi lặng lẽ ra đi giữa núi rừng chiến khu.
Sau chiến tranh, đồng đội cũ của anh vẫn luôn nhớ về người lính thông tin năm nào với niềm kính trọng sâu sắc. Họ nói rằng giữa bom đạn khốc liệt, Hải đã mang đến không chỉ công văn, mệnh lệnh mà còn mang theo tình cảm của hậu phương gửi tới tiền tuyến.
Câu chuyện về Vũ Ngọc Hải là biểu tượng đẹp của những con người thầm lặng trong thời hoa lửa. Họ không xuất hiện nhiều trong những trang sử lớn, nhưng chính sự hy sinh âm thầm ấy đã góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Ngày nay, khi được sống trong hòa bình, thế hệ trẻ càng phải biết trân trọng hơn những hy sinh của cha anh đi trước. Những câu chuyện lịch sử ấy sẽ mãi nhắc nhở mỗi người sống có trách nhiệm, biết yêu quê hương đất nước và không quên những năm tháng hào hùng của dân tộc Việt Nam.



