Khác

Cao Bá Quát – Nhà thơ lớn thế kỷ XIX

Nguyễn Hương Giang

TP. Hồ Chí Minh22/08/2026phường Trần Nhân Tông (Phường Trần Nhân Tông)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cao Bá Quát (1808–1855), tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, Cúc Đường, là một nhà thơ lớn của Việt Nam thế kỷ XIX. Ông quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, nay thuộc thành phố Hà Nội. Từ nhỏ, Cao Bá Quát đã nổi tiếng thông minh, học giỏi và có tài thơ văn.

Năm 1832, Cao Bá Quát đỗ Á nguyên kỳ thi Hương tại trường thi Hà Nội. Năm 1841, nhờ được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, ông được bổ làm Hành tẩu Bộ Lễ tại kinh đô Huế. Cùng năm, khi làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, ông cùng đồng sự sửa chữa một số bài thi có lỗi phạm trường quy. Việc này bị phát giác, khiến ông bị xử phạt, cách chức và chịu án tù; sau đó ông được tha và tiếp tục làm việc cho triều đình.

Năm 1847, Cao Bá Quát được bổ vào Viện Hàn lâm, làm công việc sưu tầm, sắp xếp thơ văn. Với tài năng văn chương nổi bật, ông cùng Nguyễn Văn Siêu được người đời ca ngợi bằng câu “Thần Siêu, Thánh Quát”, thể hiện sự đánh giá cao đối với tài văn chương của hai ông.

Sau đó, Cao Bá Quát được bổ làm Giáo thụ Quốc Oai. Trong thời gian ở đây, ông có điều kiện tiếp xúc gần hơn với cuộc sống của nhân dân và chứng kiến nhiều cảnh đói nghèo, khổ cực. Những trải nghiệm ấy góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng phê phán xã hội và khát vọng hành động của ông. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết chính trong thời gian ở Quốc Oai, Cao Bá Quát ngày càng nhận thức rõ rằng không thể chỉ làm thơ mà còn phải hành động để thay đổi thực trạng xã hội.

Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia và trở thành một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa Mỹ Lương. Cuộc khởi nghĩa được phát động trong bối cảnh đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thiên tai, mất mùa và sưu thuế nặng nề. Nghĩa quân hoạt động ở vùng Sơn Tây và một số địa phương lân cận, từng giành được một số thắng lợi ban đầu. Cao Bá Quát giữ vai trò Quốc sư và trực tiếp chỉ huy nghĩa quân.

Cuộc khởi nghĩa sau đó bị quân triều đình đàn áp. Đầu năm 1855, trong một trận chiến tại Yên Sơn, Cao Bá Quát tử trận. Sự hy sinh của ông đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, sau đó phong trào dần suy yếu và tan rã.

Cao Bá Quát để lại một di sản văn học phong phú gồm nhiều thơ chữ Hán, thơ Nôm, phú và các tác phẩm văn học khác. Sau khi ông qua đời, thơ văn của ông từng bị cấm lưu hành và hủy bỏ dưới triều Nguyễn, nhưng nhiều tác phẩm vẫn được nhân dân lưu truyền và các thế hệ sau sưu tầm, gìn giữ. Những tập thơ như Cao Chu Thần thi tập, Mẫu hiên thi loại, Cúc Đường thi thảo cùng nhiều tác phẩm khác góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của ông trong lịch sử văn học Việt Nam.

Qua sáng tác, Cao Bá Quát thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, sự cảm thông với người dân lao động và thái độ phê phán những bất công, hạn chế của xã hội đương thời. Ông cũng thể hiện một tâm hồn mạnh mẽ, cá tính cương trực và khát vọng vượt ra khỏi những khuôn khổ tư tưởng, lối học máy móc của thời đại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn