Cao Lương Bằng – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam
Tiểu sử và xuất thân
Cao Lương Bằng sinh ngày 10 tháng 9 năm 1945, tại xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình bần nông, lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh và khó khăn. Từ nhỏ, ông đã sớm thấm nhuần tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và quyết tâm đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 1967, ông được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam, chính thức năm 1968, và sau này vinh dự nhận Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.
Quá trình binh nghiệp và chiến đấu
Tháng 4 năm 1965, Cao Lương Bằng lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Trung đoàn 270, Quân khu 4. Đầu năm 1966, đơn vị chuyển sang Quân khu Trị Thiên, nơi ông cùng đồng đội trải qua hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, trực tiếp đối mặt với quân Mỹ và lực lượng đồng minh. Cá nhân ông tham gia nhiều trận, tiêu diệt hơn 200 tên địch, bắn rơi 2 trực thăng Mỹ, góp phần bảo vệ quê hương và tạo lợi thế chiến lược trên chiến trường.
Từ một chiến sĩ, ông nhanh chóng được thăng cấp và giữ nhiều chức vụ chỉ huy: Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Phó Đại đội trưởng rồi Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 47. Trong các trận đánh Xuân Hải và làng Lại An (tháng 4 năm 1966), ông đã cùng 3 đồng đội chống lại lực lượng địch đông hơn và giành thắng lợi, thể hiện sự dũng cảm và kỹ năng chiến thuật vượt trội.
Năm 1969, ông được thăng Trung úy rồi Thượng úy, đảm nhiệm Phó Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 47. Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong những năm sau, ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng: Phó Trung đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 271; Phó Sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 326; sau đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 342. Những vị trí này giúp ông đóng góp quan trọng vào việc tổ chức, chỉ huy và nâng cao hiệu quả chiến đấu của các đơn vị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hoạt động chính trị và dân sự
Từ tháng 8 năm 1989, Cao Lương Bằng tham gia Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình khóa XII, XIII, XIV, giữ chức Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh, đồng thời là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình, trực thuộc Quân khu 4. Năm 1997, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa X.
Quân hàm và danh hiệu
Cao Lương Bằng được phong quân hàm Thiếu tướng vào năm 1994, sau nhiều năm chiến đấu và cống hiến. Trong suốt cuộc đời, ông được trao tặng nhiều huân chương và danh hiệu cao quý:
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1969)
Huân chương Kháng chiến hạng Nhì
Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba
Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất
Huân chương Chiến sĩ giải phóng, Chiến sĩ vẻ vang các hạng
Huy chương Quân kỳ Quyết thắng
Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ diệt Mỹ cấp một, Dũng sĩ diệt máy bay
Cuối đời
Do vết thương cũ tái phát, Cao Lương Bằng bị đột quỵ năm 1999, nghỉ chữa bệnh dài hạn. Sau 17 năm chiến đấu với bệnh tật, ông qua đời vào ngày 11 tháng 2 năm 2016 tại nhà riêng ở phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới, Quảng Bình, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong gia đình, đồng đội và nhân dân.
Cao Lương Bằng là hình mẫu người lính kiên cường, cán bộ lãnh đạo xuất sắc, vừa dũng cảm trên chiến trường, vừa nghiêm túc trong quản lý, đào tạo quân đội. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng sống động cho tinh thần chiến đấu, hy sinh và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc.



