Bài viết

Cao Thị Mận và ký ức được giữ lại sau gần bốn năm tù đày

Ngày 23/1/1969, nữ pháo thủ Cao Thị Mận bị bắt trong trận vây ráp ở Lung Chim. Ký ức về người đồng đội Lê Ngọc Tuyết đã giúp chị bền lòng cho đến ngày được trao trả sau Hiệp định Paris.

25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trưa ngày 23 tháng 1 năm 1969, trên cánh đồng khô ở ấp Lung Chim, Cao Thị Mận cùng Nguyễn Kim Pha đang dìu người đồng đội Lê Ngọc Tuyết bị thương nặng. Vòng vây đã khép lại từ sáng, trực thăng hạ thấp trên đầu và lực lượng áp giải tiến đến. Ba người nữ pháo thủ hiểu rằng mình có thể bị bắt. Trong giây phút ấy, Tuyết bất ngờ dồn sức đẩy hai bạn ra xa, kiên quyết không để đối phương đưa đi. Cao Thị Mận phải chứng kiến đồng đội ngã xuống ngay trước mắt, rồi cùng Nguyễn Kim Pha bị kéo lên máy bay.

Cao Thị Mận còn được đồng đội gọi là Phượng. Chị là chiến sĩ của lực lượng nữ pháo binh huyện Châu Thành, hoạt động tại vùng ven Cà Mau và khu vực giáp tỉnh Bạc Liêu ngày nay. Đây là đơn vị có điều kiện chiến đấu đặc biệt khó khăn: nhiều vũ khí được tự tạo, tầm bắn của pháo chỉ khoảng hai trăm mét nên các pháo thủ phải áp sát mục tiêu, bí mật trinh sát, chấm tọa độ và bố trí trận địa trong phạm vi rất nguy hiểm.

Những nữ chiến sĩ như Cao Thị Mận không chỉ vận hành pháo. Họ còn phải hành quân ban đêm, đào công sự, ngụy trang vũ khí và phối hợp bảo vệ đội hình. Đối phương nhận thấy khả năng chiến đấu của đơn vị nên thường theo dõi, tìm cách phát hiện nơi đóng quân. Vì thế, từng dấu chân, từng vật dụng để lại trên trận địa đều có thể trở thành manh mối. Sự sống của cả đơn vị phụ thuộc vào tính kỷ luật và khả năng giữ bí mật của mỗi người.

Đêm trước trận Lung Chim, đơn vị vào vị trí tại ấp Lung Chim, xã Định Thành, thuộc huyện Châu Thành cũ, nay nằm trong địa bàn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Công sự đã được đào xong, nhưng địa hình là cánh đồng trống của mùa khô, chỉ còn gốc rạ và ít cây dại ven kênh. Khi lực lượng vừa bố trí, pháo đối phương lập tức bắn vào đội hình. Nhận ra trận địa đã bị lộ, chỉ huy yêu cầu chuyển hướng, còn tư trang và vũ khí được ngụy trang tại chỗ.

Cuộc vây ráp kéo dài từ khoảng năm giờ sáng đến mười hai giờ trưa. Một số chiến sĩ hy sinh; những người khác phải phân tán để bảo toàn lực lượng. Lê Ngọc Tuyết bị thương nặng, không còn khả năng tự di chuyển. Cao Thị Mận và Nguyễn Kim Pha không bỏ bạn, mỗi người kè một bên để đưa Tuyết ra khỏi khu vực nguy hiểm. Chính vì ở lại dìu đồng đội, cả ba rơi vào tay đối phương.

Trước đó, những người nữ pháo thủ từng nói với nhau rằng nếu bị bắt, họ sẽ không đầu hàng và không để những lời dụ dỗ làm lung lay ý chí. Khi trực thăng đến, Cao Thị Mận phản đối việc bị đưa đi. Lê Ngọc Tuyết, trong tình trạng mất nhiều máu, đã đẩy Mận và Pha ra rồi một mình đối diện với lực lượng áp giải. Sau khi Tuyết bị bắn, Cao Thị Mận và Nguyễn Kim Pha bị đưa lên máy bay, bắt đầu những năm tháng tù đày.

Tư liệu của Báo Cà Mau ghi lại rằng trong nhà tù, hình ảnh người đồng đội kiên cường không bao giờ phai trong tâm trí hai người sống sót. Ký ức ấy trở thành nguồn động viên để họ vượt qua những cuộc thẩm vấn và sự khắc nghiệt của cảnh giam cầm. Họ được trao trả khi Hiệp định Paris có hiệu lực năm 1973. Tính từ ngày bị bắt đầu năm 1969, hành trình ấy kéo dài gần bốn năm.

Việc Cao Thị Mận trở về mang một ý nghĩa đặc biệt. Chị không chỉ là người sống sót sau một trận đánh, mà còn là nhân chứng có thể xác nhận những gì đã diễn ra tại Lung Chim: thời gian vòng vây, tình trạng của đồng đội và lựa chọn cuối cùng của Lê Ngọc Tuyết. Nhờ lời kể của những người như chị, lịch sử không chỉ còn là một dòng ghi ngày tháng, mà có khuôn mặt, tiếng nói và tình cảm của những con người đã trực tiếp trải qua chiến tranh.

Sau này, Cao Thị Mận trở thành cựu chiến binh tại xã An Xuyên, thành phố Cà Mau. Cuộc đời sau chiến tranh của chị tiếp tục là một phần của câu chuyện: người từng bị kéo lên trực thăng giữa trưa tháng 1 năm 1969 đã trở về, sống trên quê hương và trao lại ký ức cho thế hệ sau. Sự trở về ấy cũng giúp đồng đội đã hy sinh có một người kể đúng về họ.

Câu chuyện của Cao Thị Mận nhắc chúng ta rằng lòng dũng cảm không chỉ nằm trong khoảnh khắc nổ súng. Nó còn nằm ở việc không bỏ một người bạn bị thương, ở sức chịu đựng qua nhiều năm giam cầm và ở trách nhiệm giữ gìn sự thật khi chiến tranh đã lùi xa. Chị sống sót không phải để quên đi ngày đau thương ấy, mà để những lựa chọn của đồng đội được nhớ lại bằng lời chứng của một người đã ở ngay bên họ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn