Cao trào cách mạng bùng nổ và chính sách đàn áp của thực dân Pháp
Từ cuối năm 1929, đầu năm 1930, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới. Hàng chục cuộc đấu tranh của công nhân dưới các hình thức kiến nghị tập thể, đình công, bãi công vv... nổ ra ở Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội, Sài Gòn, Bến Thủy và nhiều trung tâm công nghiệp khác. Tiếp đó là các cuộc đấu tranh sục sôi của hàng nghìn công nhân trong các đồn điền cao su Cam Tiêm và Phú Riềng ở Nam Kỳ. Cũng trong thời gian đó đã nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức và lãnh đạo. Đêm ngày 9-2-1930 quân khởi nghĩa đã tấn công đồn binh Pháp ở Yên Bái, giết chết một số sĩ quan Pháp và binh lính thuộc địa. Cùng lúc khởi nghĩa cũng nổ ra ở Lâm Thao (Phú Thọ), rồi một tuần sau lại bùng phát quyết liệt ở Vĩnh Bảo (Hải Dương), Phụ Dực (Thái Bình). Ngay tại Hà Nội và một số nơi khác quân khởi nghĩa cũng tổ chức ném bom tự chế, ám sát Việt gian vv...
Đặc biệt, từ ngày 1-5-1930, hàng chục cuộc biểu tình quần chúng đã nổ ra ở nhiều tỉnh trong khắp cả ba kỳ, lôi cuốn hàng nghìn nông dân, công nhân. Đáng chú ý là làn sóng đấu tranh này được phát động, tổ chức và lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc cho chính quyền thực dân Pháp ra sức răn đe, ngăn chặn và đàn áp bằng vũ lực, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam ngày càng rộng khắp hơn, quyết liệt hơn. Từ khoảng đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1930 phong trào đấu tranh đạt tới đỉnh cao ở Nghệ An và Hà Tĩnh, trở thành cao trào cách mạng với hàng chục cuộc đấu tranh, chủ yếu dưới hình thức biểu tình của hàng nghìn quần chúng, trừng trị quan lại, cường hào ở địa phương. Trong hàng chục làng, chính quyền cơ sở của chế độ thuộc địa tan rã, chính quyền cách mạng lần đầu tiên xuất hiện dưới hình thức Xô viết.
Đối phó với sự bùng nổ mạnh mẽ của phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp đã không ngần ngại sử dụng các thủ đoạn đàn áp thẳng tay, tàn khốc nhất. Đây cũng chính là thủ đoạn đàn áp và thống trị của người Pháp trong suốt thời gian kể từ khi họ thiết lập được ách thống trị thực dân trên đất nước Việt Nam. Albert Sarraut hay Alexandre Varenne làm Toàn quyền Đông Dương ra sức tuyên truyền cho “chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề” hay “Pháp - Nam hợp tác” thì họ cũng chưa bao giờ có ý định thay đổi chính sách đối phó với các phong trào phản kháng của nhân dân các xứ thuộc địa. Có chăng chỉ là tìm cách “bọc nhung” cho bàn tay sắt mà thôi.
Theo “truyền thống” đó, thực dân Pháp đã kiên quyết đáp trả cuộc khởi nghĩa vũ trang do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo và phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bằng những chiến dịch, những hành vi đàn áp thẳng tay. Cảnh sát, mật thám, lính địa phương và cả quân đội thường trực của chính quyền thuộc địa đều được đưa vào trận, ra sức ngăn chặn, săn lùng bắt, giết tất cả những ai mà thực dân Pháp và Nam triều cho là quân phản loạn. Ngày 12-2-1930, Toàn quyền Pierre Pasquier đã ban hành Nghị định thành lập Hội đồng Đề hình để xét xử và kết án các chiến sĩ tham gia vào cuộc nổi dậy. Giữa trưa ngày 16-2, đích thân Thống sứ Bắc Kỳ René Robin đã ra lệnh cho 5 chiếc máy bay ném xuống làng Cổ Am (Vĩnh Bảo) - một trong những nơi được cho là căn cứ của quân khởi nghĩa, 57 quả bom và bắn phá, triệt hạ ngôi làng này. 21 người đã bị thiệt mạng.
Để khủng bố triệt để tinh thần của nhân dân Việt Nam, René Robin còn cho bố cáo rộng rãi về hành vi này, nhằm hăm dọa và triệt hạ tinh thần phản kháng của dân chúng bản xứ. Trong bức công điện gửi các viên công sứ tất cả các tỉnh ở Bắc Kỳ vào ngày hôm sau, René Robin viết: “Làng Cổ Am thuộc tỉnh Hải Dương, nơi bọn loạn quân rút về ẩn náu sau khi đã hạ sát ông huyện Vĩnh Bảo, đã bị giội bom bởi một phi đội được cử đi từ Hà Nội. Vậy bản chức thông tư cho các ngài biết. Các ngài phải thông báo việc ấy cho thật rộng rãi để cho dân các làng xã đều hay. Nếu làng nào còn chứa chấp bọn phản loạn, thì cũng sẽ bị trừng trị ngay như làng Cổ Am, quyết không tha thứ”.
Đối với các cuộc biểu tình quần chúng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, các biện pháp đàn áp của thực dân Pháp còn tàn khốc hơn. Họ không ngần ngại hạ lệnh cho binh lính xả súng vào các đoàn biểu tình của nông dân ở Thái Bình, Long Xuyên, Cao Lãnh, Chợ Mới vv... Khi các cuộc biểu tình khổng lồ của nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh nổ ra thì các hành vi đàn áp của thực dân Pháp và Nam triều càng dữ dội hơn. Đặc biệt nghiêm trọng là: để đàn áp các cuộc biểu tình của hàng vạn nông dân và công nhân nổ ra ở Nam Đàn, Thanh Chương và Hưng Nguyên từ ngày 9 đến ngày 12-9-1930, thực dân Pháp đã cho binh lính và cảnh sát sử dụng súng máy bắn thẳng vào đoàn người, rồi sau đó nhiều lần cho máy bay ném bom vào giữa đám đông quần chúng. Hàng trăm người đã bị giết chết ngay tại chỗ. Hàng trăm người khác bị thương.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, nhà cầm quyền phải sử dụng quân đội thường trực và máy bay ném bom để đàn áp các cuộc biểu tình của dân chúng.
Cùng với các biện pháp trên, Hội đồng đề hình - một thứ tòa án đặc biệt của thực dân Pháp đã liên tục xét xử những người nổi dậy bị họ bắt giữ. Hàng trăm người đã bị kết án tử hình, bị hành quyết bằng máy chém. Hàng trăm người khác bị kết án rất nặng, từ 20 năm tù đến chung thân khổ sai. Hàng nghìn người bị giam cầm, tra tấn, thậm chí bị đưa đi đày biệt xứ, sang tận Guyane, Bắc Phi và Nouvelle Calédonie.



