Khác

CAO TRÀO DẪN TỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Cao trào kháng Nhật cứu nước (3–8/1945) là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho Cách mạng tháng Tám. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Việt Minh, lực lượng chính trị, vũ trang và căn cứ địa được mở rộng; phong trào phá kho thóc, khởi nghĩa từng phần giúp quần chúng tích lũy kinh nghiệm. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 15/8/1945, cách mạng nhanh chóng chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa và giành chính quyền trên cả nước.

Tuyên Quang20/08/2026Đoàn xã Thạnh An, thành phố Cần Thơ (Đoàn xã Thạnh An)11 lượt xem0 lượt chia sẻ
CAO TRÀO DẪN TỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Khi nghiên cứu tiến trình cách mạng Việt Nam giai đoạn 1939–1945, cần nhìn nhận Cách mạng tháng Tám không chỉ là kết quả của thời cơ lịch sử mà còn là thành quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, toàn diện và chủ động của cách mạng Việt Nam. Trong đó, cao trào kháng Nhật cứu nước (từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945) giữ vai trò là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Việc đánh giá đúng vai trò của cao trào này góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cũng như quy luật vận động của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai.

Cao trào kháng Nhật cứu nước cần được đặt trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước và thế giới lúc bấy giờ. Từ năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã làm thay đổi sâu sắc cục diện quốc tế. Ở Đông Dương, sau khi quân Nhật tiến vào năm 1940, nhân dân Việt Nam phải chịu sự thống trị đồng thời của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Chính sách bóc lột và vơ vét của hai thế lực này đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng kiệt quệ, mà đỉnh điểm là nạn đói năm 1945 khiến khoảng hai triệu người thiệt mạng theo nhiều công trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Thảm họa này phản ánh hậu quả của chính sách vơ vét lương thực, bắt dân nhổ lúa trồng đay phục vụ chiến tranh của phát xít Nhật, cùng với chính sách bóc lột của thực dân Pháp, tác động của chiến tranh và thiên tai, làm cho đời sống nhân dân rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Nạn đói không chỉ gây nên thảm họa nhân đạo mà còn bộc lộ sự phá sản của bộ máy thống trị Nhật – Pháp, làm mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với các thế lực xâm lược trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

image.png

Nạn đói năm Ất Dậu (1944-1945)

Trước yêu cầu cấp bách của lịch sử, Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 5 năm 1941), do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), đồng thời chủ trương xây dựng căn cứ địa cách mạng, phát triển lực lượng chính trị và từng bước xây dựng lực lượng vũ trang. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ sở để cách mạng tiến từ giai đoạn chuẩn bị sang khởi nghĩa khi thời cơ xuất hiện.

image.png

Ngày 10-5-1941, là ngày đầu tiên diễn ra Hội nghị Trung ương VIII  của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Pác Bó (Cao Bằng), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc

Trong quá trình chuẩn bị đó, căn cứ địa Việt Bắc giữ vị trí trung tâm của cách mạng cả nước. Đây là căn cứ địa cách mạng lớn và hoàn chỉnh nhất trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, đồng thời là nơi đặt các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh. Từ Việt Bắc, phong trào cách mạng được chỉ đạo thống nhất trên phạm vi toàn quốc; nhiều cán bộ được đào tạo, lực lượng chính trị được xây dựng và các đội vũ trang được tổ chức, huấn luyện. Sau khi Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân vào tháng 5 năm 1945, lực lượng vũ trang cách mạng có điều kiện phát triển thống nhất cả về tổ chức lẫn chỉ huy. Tháng 6 năm 1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, gồm sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên cùng một số vùng phụ cận. Đây là hình thức chính quyền cách mạng hoàn chỉnh đầu tiên trên phạm vi rộng, vừa là hậu phương của lực lượng vũ trang, vừa là nơi thử nghiệm việc quản lý nhà nước trước khi Tổng khởi nghĩa diễn ra trên phạm vi cả nước. Tân Trào trở thành trung tâm chỉ đạo cách mạng, nơi diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội trước khi phát động Tổng khởi nghĩa, đồng thời là hình mẫu thực tiễn cho việc xây dựng chính quyền cách mạng sau khi giành độc lập.

image.png

Lược đồ khu giải phóng Việt Bắc

image.png

Đình Tân Trào (Tuyên Quang)

Bước ngoặt quyết định xuất hiện sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự kiện này làm tan rã bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương, đồng thời khiến phát xít Nhật trở thành kẻ thù trực tiếp và duy nhất của nhân dân Việt Nam. Trước tình hình đó, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị xác định phải chuyển khẩu hiệu đấu tranh từ chống cả Nhật và Pháp sang tập trung chống phát xít Nhật, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước và tiến hành khởi nghĩa từng phần ở những nơi có điều kiện. Chủ trương này thể hiện sự nhạy bén trong nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, vừa tận dụng sự thay đổi của tình hình chính trị, vừa tạo bước chuyển trực tiếp từ quá trình chuẩn bị sang hành động cách mạng trên phạm vi cả nước.

image.png

Quân Nhật tại Đông Dương sau khi đảo chính Pháp (tháng 03/1945)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, cao trào kháng Nhật cứu nước nhanh chóng lan rộng ở nhiều địa phương. Trước hết, cao trào đã tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ cùng nhiều tầng lớp yêu nước khác được vận động tham gia các tổ chức cứu quốc, tạo nên lực lượng chính trị đông đảo làm chỗ dựa vững chắc cho Tổng khởi nghĩa.

Trên phương diện quân sự, các đội du kích phát triển mạnh, nhiều căn cứ được mở rộng và chính quyền cách mạng từng bước được hình thành ở một số địa phương. Việc tổ chức khởi nghĩa từng phần giúp cán bộ và quần chúng tích lũy kinh nghiệm chiến đấu, tổ chức, chỉ huy và quản lý địa phương sau khi giành chính quyền. Đồng thời, lực lượng cách mạng trực tiếp thực hành việc duy trì trật tự xã hội, phân phối lương thực, vận động nhân dân và giải quyết các vấn đề dân sinh. Có thể xem đây là cuộc tổng diễn tập cuối cùng trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám, bởi những kinh nghiệm thực tiễn đó đã tạo nền tảng quan trọng để cuộc khởi nghĩa trên phạm vi cả nước diễn ra nhanh chóng và tương đối thống nhất.

Đặc biệt, phong trào “phá kho thóc Nhật, giải quyết nạn đói” diễn ra ở nhiều tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã trở thành một hình thức đấu tranh có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Phong trào không chỉ góp phần cứu đói cho nhân dân mà còn mở rộng ảnh hưởng của Việt Minh, phá vỡ tâm lý e ngại của quần chúng đối với chính quyền Nhật và tay sai. Thông qua việc tổ chức quần chúng, phân phối lương thực và duy trì trật tự ở địa phương, Việt Minh đồng thời kiểm nghiệm năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cơ sở, từng bước xây dựng lòng tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng tương lai.

image.png

Nhân dân Việt Nam nổi dậy đánh chiếm kho thóc của Nhật năm 1945

Bên cạnh sự chuẩn bị chủ động của cách mạng Việt Nam, diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ hai cũng tạo nên những điều kiện quốc tế thuận lợi. Tháng 5 năm 1945, Đức Quốc xã đầu hàng Đồng minh. Đầu tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản và tiến công đạo quân Quan Đông tại Mãn Châu; Hoa Kỳ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Chuỗi sự kiện này góp phần đẩy Nhật Bản đến quyết định đầu hàng Đồng minh vô điều kiện ngày 15 tháng 8 năm 1945, làm cho bộ máy thống trị của Nhật ở Đông Dương nhanh chóng rơi vào tình trạng tê liệt, tạo nên thời cơ khách quan đặc biệt thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.

image.png

Hai vụ nổ bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki (1945)

 Tuy nhiên, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không thể giải thích chỉ bằng những biến động quốc tế hay sự sụp đổ của phát xít Nhật. Nếu không có quá trình chuẩn bị lâu dài về đường lối, tổ chức, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang thì thời cơ khách quan khó có thể nhanh chóng chuyển hóa thành thắng lợi của cách mạng. Ngược lại, nếu không kịp thời nắm bắt thời cơ khi Nhật đầu hàng, khoảng trống quyền lực ở Đông Dương có thể nhanh chóng bị các lực lượng khác chiếm giữ. Chính vì vậy, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự kết hợp giữa điều kiện khách quan thuận lợi và sự chuẩn bị chủ động của cách mạng Việt Nam. Trong đó, nhân tố chủ quan giữ vai trò quyết định trong việc biến thời cơ thành hiện thực.

Tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Tiếp đó, Quốc dân Đại hội Tân Trào thông qua nhiều quyết định quan trọng về tổ chức chính quyền cách mạng và bầu Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ban hành Quân lệnh số 1, chính thức phát động Tổng khởi nghĩa. Chỉ trong thời gian ngắn, chính quyền cách mạng lần lượt được thành lập ở hầu khắp các địa phương, đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

image.png

Tranh vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào (Tuyên Quang)

image.png

Mít tinh tại quảng trường Nhà hát Lớn (Hà Nội), ngày 19-8-1945

Nhìn từ góc độ sử học, nhiều công trình nghiên cứu của Viện Sử học Việt Nam và các giáo trình lịch sử hiện nay đều thống nhất rằng cao trào kháng Nhật cứu nước là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho Cách mạng tháng Tám. Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng thắng lợi của cuộc cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố: đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quá trình chuẩn bị lâu dài về lực lượng chính trị và vũ trang, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, cùng với việc kịp thời chớp lấy thời cơ quốc tế khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh. Điều đó cũng phù hợp với tinh thần của Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, trong đó Đảng xác định phải phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để sẵn sàng chuyển sang Tổng khởi nghĩa khi thời cơ xuất hiện.

Có thể khẳng định rằng cao trào kháng Nhật cứu nước là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp, toàn diện và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc chuyển cách mạng Việt Nam từ thế chuẩn bị sang thế tiến công giành chính quyền. Cao trào đã mở rộng lực lượng chính trị, thống nhất và phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng Khu giải phóng Việt Bắc, củng cố căn cứ địa cách mạng, phát triển chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương và rèn luyện quần chúng thông qua các cuộc khởi nghĩa từng phần. Chính sự chuẩn bị toàn diện ấy đã tạo điều kiện để Đảng kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa khi thời cơ lịch sử xuất hiện sau sự đầu hàng của Nhật Bản, đưa Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi và khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi đó là kết quả của sự kết hợp giữa điều kiện quốc tế thuận lợi và sự chuẩn bị chủ động, lâu dài của cách mạng Việt Nam, trong đó nhân tố chủ quan giữ vai trò quyết định trong việc biến thời cơ thành hiện thực lịch sử.

image.png

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội (2/9/1945)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn