CAO VĂN KHÁNH – VỊ TƯỚNG TỪ TRƯỜNG LUẬT ĐẾN MẶT TRẬN
Từ dòng tộc danh giá đến trận tuyến khốc liệt của chiến tranh cách mạng, cuộc đời Trung tướng Cao Văn Khánh là hành trình cống hiến không ngơi nghỉ cho dân tộc, mang đậm dấu ấn của một trí thức yêu nước, một vị tướng tài ba, kiên cường, tận tụy và thầm lặng.
Cao Văn Khánh sinh năm 1917 tại cố đô Huế, trong một gia đình quý tộc, trí thức gắn bó với triều Nguyễn. Là người con trai út của dòng họ, Cao Văn Khánh thừa hưởng tinh thần học vấn và khát vọng phụng sự quốc gia. Ông đỗ Cử nhân Luật tại Đại học Đông Dương, một trong những trung tâm đào tạo danh giá bậc nhất thời Pháp thuộc, và sớm tham gia phong trào Hướng đạo Pháp, nơi ông kết giao với những trí thức cách mạng như Phan Anh, Tạ Quang Bửu… Thay vì bước vào con đường công danh dễ dàng như các anh, ông chọn trở thành một giáo sư toán tại các trường tư thục ở Huế, đồng thời tích cực tham gia phong trào Hướng đạo Trung kỳ, bước khởi đầu cho chí hướng dấn thân cách mạng.
Từ trí thức yêu nước đến vị tướng chiến trường
Năm 1945, thời cuộc chuyển mình. Sau khi Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, theo lời kêu gọi của Phan Anh và Tạ Quang Bửu, ông nhập học Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến, nơi đào tạo những trí thức yêu nước cho cách mạng vũ trang. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông cùng các đồng chí lập Giải phóng quân Huế và trở thành Phó Chủ tịch lực lượng này – tiền thân của các đơn vị Việt Minh tại Trung Bộ.
Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, ông theo đoàn quân Nam tiến, đảm nhiệm vai trò Ủy viên quân sự tỉnh Bình Định. Tháng 10/1945, ông được giao làm Khu trưởng Khu V – vùng đất trọng yếu chiến lược miền Trung, với chính ủy là Trần Lương (sau này là Trung tướng Trần Nam Trung). Thời gian này, ông cũng giữ chức Chỉ huy phó phân sở Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ, phụ trách khu vực từ Phú Yên đến Bình Thuận.
Giữa năm 1946, ông được bổ nhiệm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 27, và sau đó trở lại làm Khu trưởng Khu V lần thứ hai. Đến tháng 8/1949, ông được điều ra Bắc tham gia thành lập Đại đoàn 308 – Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, mang danh hiệu “Quân Tiên Phong”. Trên cương vị Đại đoàn phó, ông chỉ huy tác chiến tại các chiến dịch lớn như Sông Thao (1949), Biên Giới (1950), Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Quang Trung, Tây Bắc, Thượng Lào… Ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh ác liệt như Tu Vũ, Phố Lu, Vĩnh Yên. Trong chiến dịch Biên Giới (1950), khi Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ lâm bệnh, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao quyền chỉ huy. Dưới sự chỉ huy của ông, Đại đoàn 308 tiêu diệt gọn hai binh đoàn cơ động Le Page và Charton – đòn giáng sấm sét vào đạo quân viễn chinh Pháp, tạo bước ngoặt cho cuộc chiến tranh.
Người kiến trúc sư của nhiều chiến dịch lớn
Sau Hiệp định Genève 1954, ông trở về Bộ Tổng Tham mưu, lần lượt giữ các chức vụ Cục trưởng Cục Quân huấn, Cục trưởng Cục Tổ chức Kế hoạch, kiêm Cục trưởng Cục Nhà trường. Năm 1960, ông sang Liên Xô học tại Học viện Quân sự cao cấp Voroshilov. Cũng trong năm này, ông trở thành Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Năm 1964, ông đảm nhiệm vai trò Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 3, chuẩn bị lực lượng bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường miền Nam.
Từ 1966 đến 1972, ông là một trong những chỉ huy cao cấp gắn bó với các chiến trường trọng điểm như B3 Tây Nguyên, Trị Thiên – Huế, Quân khu IV. Ông là người đặt nền móng cho Binh đoàn B70 – tổ chức binh đoàn chiến thuật đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, tiền thân các Quân đoàn sau này.
Đặc biệt, từ năm 1971, ông trở thành Tư lệnh Mặt trận B5 – chủ công trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào, chống lại cuộc hành quân Lam Sơn 719. Chiến dịch do ông trực tiếp xây dựng phương án và chỉ huy tác chiến, đã đánh bại một trong những chiến dịch lớn nhất của quân đội Sài Gòn với sự yểm trợ của Mỹ.
Năm 1972, ông trở thành Tư lệnh Quân khu Trị Thiên – chiến trường ác liệt và có tính quyết định trong các năm cuối cuộc chiến tranh. Tên tuổi ông gắn liền với các chiến dịch lớn: Đắc Tô – Tân Cảnh (1967), Khe Sanh (1968), Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Tây Nguyên (1974).
Năm 1974, ông được điều về Bộ Tổng Tham mưu với cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng. Trên cương vị này, ông là Tổ trưởng Tổ Thường trực chỉ đạo tác chiến chiến lược, góp phần xây dựng phương án tổng tiến công mùa Xuân 1975. Đó là chiến công cuối cùng và rực rỡ nhất của ông – một viên gạch lặng lẽ nhưng vững chắc trong bức trường thành chiến thắng của dân tộc.
Năm 1978, ông chủ trì xây dựng và ban hành “Năm phương thức tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc” – tài liệu chiến lược trọng yếu chuẩn bị cho cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Ông được phong Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980. Cùng năm đó, ông qua đời vì bệnh ung thư tại Hà Nội.
Lặng lẽ như một ngọn núi
Trong những năm tháng cuối đời, ông chọn sống thanh bạch, khiêm nhường, gần như không xuất hiện trên báo chí hay sân khấu vinh danh. Khi mất, theo nguyện vọng của vợ ông, linh cữu không được đưa vào Nghĩa trang Mai Dịch, nơi an nghỉ của nhiều cán bộ cao cấp mà được an táng tại nghĩa trang Yên Kỳ, để ông được nằm cạnh những đồng đội Đại đoàn 308 năm xưa và hai người con trai của mình.
Cuộc đời Cao Văn Khánh là hiện thân của một lớp trí thức yêu nước đã chọn con đường cách mạng, chấp nhận lùi vào thầm lặng để dồn tất cả hào quang cho Tổ quốc. Ông là một vị tướng không thích xuất hiện trên sân khấu lịch sử, nhưng dấu chân ông thì còn in đậm trên từng chiến dịch, từng bước tiến của Quân đội ta.



