Anh hùng Lực lượng vũ trang

CAO VĂN NGỌC - NGƯỜI TÙ KHÍ TIẾT (1897 -1961)

Ông Cao Văn Ngọc sinh năm Đinh Dậu (1897) tại làng An Ngãi, huyện Long Đất. Xuất thân từ một gia đình nông dân lao động cần cù nên ông được mọi người dân mến phục, rồi được cử vào Ban hương chức, làm Hương quản làng An Ngãi khi tuổi đã ngoài 40.

Lai Châu30/10/2026Đoàn xã Long Điền (Xã Long Điền)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
CAO VĂN NGỌC - NGƯỜI TÙ KHÍ TIẾT (1897 -1961)

Ông Cao Văn Ngọc sinh năm Đinh Dậu (1897) tại làng An Ngãi, huyện Long Đất. Xuất thân từ một gia đình nông dân lao động cần cù nên ông được mọi người dân mến phục, rồi được cử vào Ban hương chức, làm Hương quản làng An Ngãi khi tuổi đã ngoài 40. Thấm nỗi nhục của người dân mất nước, nên ông đi theo cách mạng từ năm 1945. Tham gia Thanh niên tiền phong, giành chính quyền xã. Sau đó ông trở thành nhân viên Quốc gia tự vệ cuộc (công an) xã An Ngãi.

Năm 1948 ông Cao Văn Ngọc làm chánh thơ ký Hội nông dân cứu quốc xã. Một năm sau thực dân Pháp tái chiếm quê hương, ông thoát ly vào hoạt động bán hợp pháp ở chiến khu Minh Đạm. Tổ chức giao cho ông đi về xã vận động nhân dân tham gia các phong trào yêu nước, thu hội phí, tải lương thực, thực phẩm, phá hoại giao thông, bảo vệ căn cứ cách mạng. Ông làm tốt mọi công việc được giao, và được kết nạp vào Đảng Cộng sản.

Tháng 10/1952, một trận bão đã gây nên lụt lớn ở miền Đông Nam Bộ, đời sống trong chiến khu vô cùng khó khăn, phải giảm một số cán bộ, ông trở về quê sinh sống, hoạt động hợp pháp, là cơ sở cách mạng cho đến sau Hiệp nghị Giơnevơ. Trong thời gian này địch đóng đồn bót, dồn dân, rào làng. Chi bộ trong chiến khu Minh Đạm, không liên hệ được, ông làm ăn ổn định cuộc sống, không sinh hoạt công tác nữa.

Đến cuối năm 1954, một Đảng viên chi bộ xã An Ngãi được phân công ở lại bám trụ, lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp nghị Giơnevơ đã móc nối ông, xây dựng thành cơ sở nòng cốt. Ông Cao Văn Ngọc tham gia tuyên truyền, tổ chức quẩn chúng dưới các hình thức công khai hợp pháp, chuẩn bị tổ chức các cuộc đấu tranh đòi thi hành hiệp định.

Do có kẻ phản bội khai báo, chiều 28.9.1956 bọn địch ập vào nhà ông. Chúng lục soát và phát hiện 3 xấp tài liệu dấu trong ống tre trên mái nhà. Ông bị bắt, dù bị tra tấn đánh đập dã man, hay có khi chúng dụ dỗ mua chuộc, nhưng trước sau ông vẫn trả lời : Cháu ông gởi ông cất ở đó, chẳng biết là tài liệu gì. Chúng giam ông một năm ở Biên Hòa, rồi lại gia hạn an trí 2 năm. Cuối cùng chúng chuyển ông ra Côn Đảo vào ngày 16.7.1957, khi ấy ộng vừa tròn 60 tuổi. Trong hồ sơ của ông được tên quản đốc trung tâm huấn chính Biên Hòa ghi " Đảng viên Cộng sản huấn chính trung kiên, lúc nào cũng tỏ ra chống đối chính phủ bằng mọi hành động... xin tăng thời hạn câu lưu thêm 18 tháng và phải giáo dục tại Côn Sơn." Dù lúc ấy ông không còn sinh hoạt Đảng, nhưng tại Côn Đảo bọn địch gạn lọc, phân loại. Ông tuyên bố theo Hồ Chí Minh, theo Cộng sản.

Bọn cai tù đã đem ông về trại I- trại những người chống ly khai Cộng sản, bị cầm cố rất khắc nghiệt, bớt cơm, bớt nước uống, cúp nước tắm, ăn không rau, đau không thuốc. Chúng còn dùng mọi cực hình để tra tấn như : cột hai đầu dây diện vào hai cổ tay và treo bổng chân khỏi mặt đất, làm cho điện giật liên hồi từng chập cho đến ngất xỉu, rồi dội nước cho tỉnh lại, rồi lại tra tấn tiếp. Dù chúng dùng mọi thủ đoạn để tra tấn nhưng ông luôn luôn giữ vững lập trường, khí tiết của mình.

Năm 1959 tên trung úy Nguyễn Đắc Dận được biệt phái làm trưởng an ninh trung tâm huấn chính. Hắn có rất nhiều thủ đoạn hành hạ người tù. Câu nói cửa miệng của hắn: “ cứ tẩn tợn, giết tợn vào là khai hết"

Tháng 2.1959, tên Nguyễn Đắc Dận chọn khám 9 nơi giam giữ những người tuổi cao, sức yếu làm điểm mở màn cho “ Chiến dịch chày vồ". Hắn cho gọi từng người tù ra chất vấn, đấu lý, cưỡng bức ly khai. Ai không chịu được thì bắt đứng dựa vào tường, dùng chày vồ bằng gỗ, đường kính 10cm, quật thẳng cánh vào lưng, vào ngực. Người nào khoẻ cũng được 5 – 7 chày là hộc máu. Bằng thủ đoạn này, Dận đã cưỡng bức được trên 20 tù chính trị trại I ly khai Cộng sản.

Đến lượt ông Cao Văn Ngọc tên Nguyễn Đắc Dận cho bọn trật tự ác ôn xúm vào đấm đá theo kiểu “ đánh hội”. Đến khi ông bị ngất xỉu hắn mới cho dựng dậy, áp lưng vào tường, dang tay rồi dùng chày vồ, quật thẳng cánh vào ngực từng cái một, máu mồm, máu mũi ộc ra, nhưng ông không hể kêu rên một lời nào. Tên Dận gạn hỏi : Chịu ly khai không? Ông lắc đầu. Hắn lao vào ông cào cấu như một con thú dữ rồi bất lực, cho bọn tay chân lôi bừa sang trại II, trại của những người đã ly khai. Nhưng ông giằng khỏi tay bọn trật tự quắc mắt nạt lại chúng:

- Cha tụi bay, quân ăn cướp, trả tao về trại I, không tao đập đầu chết liền cho tụi bay coi.

Lúc bấy giờ nhìn mặt ông quắc thước dữ dội, làm cho bọn giết người không gớm giếc cũng phải bủn rủn chân tay, sợ hãi. Chúng đành phải trả ông về trại I. Ông nổi danh là ông già Bà Rịa hay ông già Chuồng Cọp từ đó. Còn đối với những người bạn tù ông lại hiển khô. Anh em hỏi: Vì sao ông già yếu vậy mà chịu đòn dữ ? Ông trả lời : Có bảo bối trừ quỷ dữ. Nói rồi ông đọc một mạch gần 200 câu kinh nhật tụng mà những tù Côn Đảo cho rằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau luật 10/59 chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố đối với những người tù chính trị Côn Đảo, đặc biệt chúng đã mở chiến dịch đánh phá trại 1, trại những người chống ly khai. Sau trận ấy trại I gần 1000 tù chính trị buộc phải cam kết chịu điểu kiện về trại II, trại ly khai do sự tra tấn dã man, tàn bạo của chế độ độc tài phát xít. Nhưng ông Cao Văn Ngọc cùng 58 chiến sĩ kiên cường không chịu khuất phục trước những làn roi vọt, lưỡi lê, họng súng, cấm cố và đày ải. Ngày 3.4.1960 chúng đã đưa ông về Chuồng Cọp.

Nhiều người đã chết thê thảm, một số người không chịu đựng nổi sự tàn bạo, đành chịu nhục, xin ra. Thương ông tuổi già sức yếu, có người khuyên ông nên chịu điều kiện “ ly khai" cho đỡ cực, ông tuyên bố thẳng thắn lập trường:

-Tôi già rồi, sướng có, khổ có, đủ cả rồi, nay chỉ còn thiếu chết cho cách mạng.

Từ đó không ai dám nói chuyện “ly khai" trước mặt ông. Họ chỉ còn biết noi gương ông mà giữ vững khí tiết.

Những ngày ở trong ngục tù Côn Đảo ông Cao Văn Ngọc thường nói: "Tôi nay đã ngoài sáu mươi rồi cực khổ đã lắm đau thương đã nhiều và cũng đã có lức sướng. Bây giờ tôi chỉ cần chết sao không hổ thẹn mà chết cho dân cho nước là quang vinh nhất trần đời rồi còn gì”. Chế độ Chuồng Cọp trở nên khắc nghiệt .Trước đây cơm ăn với khô mục mắm thối, bây giờ cũng không còn, có lúc chúng ném vào cho người tù mỗi người một cục cơm gạo hẩm,trộn muối cục mặn chát, phải bỏ ra lựa từng hạt muối mới ăn được. Có lúc chúng xối nước bảy ngày đêm liên tục. Chúng bắt người tù ngồi yên một chỗ, rồi xối nước lên đầu, gió biển thổi ào ào, nền xi măng lạnh ngắt làm cho người tù da thịt nổi gai lên chân tay săn lại như tàu lá héo. Nhưng đối với ông Cao Văn Ngọc thái độ vẫn bình tĩnh không hề nao núng .Ông nằm bắt chân chữ ngũ ngẫm ngợi bài “Kinh nhật tụng"

Có hôm chúng dội nước muộn, ông hóm hỉnh: "Giờ này mà chúng chưa xối nước cho người ta ngủ".

Tên Phạm Sau trưởng trung tâm chỉnh huấn thường dụ dỗ, thuyết phục ông. Nó bảo: ông đâu phải là đảng viên Cộng sản mà chống ly khai; rằng ông duyên nợ gì với Hồ Chí Minh mà theo, đến nỗi phải ở tù, nằm chờ chết ở đấy? Ông hóm hỉnh trả lời :

- Cụ Hồ giải phóng cho dân tộc khỏi ách nô lệ. Tôi mắc nợ khoản đó, tôi phải trả suốt đời.

Đầu năm 1961. Chỉ còn lại 18 người chống ly khai ở chuồng cọp đó là: Nguyễn Đức Thuận, Hoàng Chất, Lưu Chí Hiếu, Phan Trọng Bình, Cao Văn Ngọc... Chế độ nhà tù càng trở nên khắc nghiệt. Chúng tuyên bố chính quyền Quốc gia là một chế độ chống cộng nghĩa là tiêu diệt hết ai là Cộng sản. Chứng có thể bắn tất cả 18 người chống ly khai cuối cùng, hay chở ra biển quăng xác cho cá mập ăn thịt...

Sau hai tuần đường mật dụ dỗ, bọn cai huấn tuyên bố là chúng đã “bác ái”, “nhân vị”," cần lao” hết cỡ rồi. Đây là lần cuối cùng để xác định lập trường, lựa chọn lẫn chót: “Quốc gia” hay "Cộng sản” có nghĩa là “ sống hay chết”. Ai ngoan cố thì xin vĩnh biệt. Ông Cao Văn Ngọc cầm bút không do dự:

Tôi tên Cao Văn Ngọc, 64 tuổi, vì già và dốt, học tập không được nên không ly khai. Và xin ở đây đến ngày chết thôi.

Nay tờ

Cao Văn Ngọc

Ông ký tên báng chữ Hán. Hai hôm sau trong một trận tra tấn khốc liệt chúng đánh ông hộc máu chết ngay tại gian Chuồng Cọp số 31 vào đêm 27.3.1961.

Screenshot 2026-10-28 100359.png

Ông già Cao Văn Ngọc đã trở thành một biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước, yêu lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tấm gương của ông được toàn thể tù chính trị các trại học tập noi theo cho đến ngày thống nhất đất nước.

Thời ấy những người giữ cương vị cao trong Đảng từ Xứ uỷ đến Tỉnh uỷ đều phải khâm phục phẩm chất sáng trong như ngọc của ông. Ông Phan Trọng Bình một trong năm ngôi sao sáng trong Chuồng Cọp, sau ngày giải phóng cũng khâm phục viết về ông: “ Có lẽ chỉ có hai con người đã hiên ngang, dứt khoát lựa chọn một lần thôi và không bao giờ dao động là anh Lưu Chí Hiếu và ông già Cao Văn Ngọc. Hai con người mà tâm hồn tư tưởng, phẩm chất cách mạng sáng trong như viên ngọc quý” Và chính ông Cao Văn Ngọc và Lưu Chí Hiếu được những người tù chính trị Côn Đảo xếp vào hàng “những ngôi sao sáng nhất”.

Trong cuốn sách “ Vàng trong lửa” giáo sư sử học Trần Văn Giàu nhận xét về ông Cao Văn Ngọc và một số người khác : “ Đó là những người anh hùng thật sự, hàng trăm lần anh hùng” Và trong lời tựa cuốn “ Nhà tù Côn Đảo 1955 – 1975”; ông lại viết : “ Tôi thành thật khâm phục, xin cúi đầu trước ông già Cao Văn Ngọc " Ngày 22.8.1998 Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 423 KT/CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho ông Cao Văn Ngọc.

Hiện nay tại Côn Đảo trường tiểu học được mang tên " Cao Văn Ngọc “ để luôn luôn nhắc nhở thế hệ trẻ về phẩm chất cao đẹp của ông, một người tù trung kiên bất khuất, một người con anh hùng của quê hương Bà Rịa – Vũng Tàu.

* Trích Một số nhân vật lịch sử của Bà Rịa – Vũng Tàu, NXB Thanh Niên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn