Cặp chèo ba lá mang mật lệnh vượt lưới đồn sông Hậu
Cặp chèo ba lá mang mật lệnh vượt lưới đồn sông Hậu
Vào mùa nước nổi năm 1972, dòng sông Hậu đoạn chảy qua vùng Châu Đốc, An Giang mênh mông biển nước. Địch tăng cường tối đa các đội tuần tra dùng tàu bo bo tốc độ cao, rà quét đèn pha suốt đêm ngày nhằm cắt đứt đường dây giao liên từ bờ bên này sang các bến bãi vùng căn cứ. Chúng ra quy định khắt khe: Tất cả xuồng ghe của dân đi câu, đi giăng lưới khi qua khúc sông gần đồn đều phải cập ngạn, lật úp khoang xuồng, đổ hết giỏ cá để lính bảo an kiểm tra xem có giấu vũ khí hay tài liệu cách mạng.
Để chuyển một bản mật lệnh khẩn cấp của Tỉnh ủy ra cứ núi nhằm phối hợp lực lượng phản công bẻ gãy một trận càn lớn, chú Năm Chèo — một cơ sở cách mạng bí mật làm nghề đưa đò và giăng lưới trên sông Hậu — đã nghĩ ra một kế hoạch ngụy trang táo bạo: Giấu mật lệnh vào chính chiếc rầm chèo của xuồng ba lá.
Chiếc rầm chèo là vật bất ly thân của người dân vùng sông nước, làm bằng gỗ cây chèo veo hoặc cây sao rất chắc chắn, hằng ngày ngâm dưới nước, bám bùn đất lấm lem. Chú Năm đã bí mật mang cây chèo vào buồng tối, dùng mũi khoan sắt khoan một lỗ sâu, dọc theo thớ gỗ thẳng từ phần cán chèo đi sâu vào lòng bản chèo. Bản mật lệnh được viết trên giấy mỏng, bọc kín trong bốn lớp lá chuối khô và nilon chống nước, nhét gọn gàng vào ruột chèo. Sau đó, chú dùng một cái chốt gỗ đóng chặt miệng lỗ, dùng keo dán ép khít rịt rồi lấy dao gọt, xát bùn sông lên cho cũ kỹ y như một khúc gỗ liền khối.
Một buổi trưa nắng gắt, chú Năm thong thả khua mái chèo, cho chiếc xuồng ba lá chở một giỏ cá linh nhỏ tiến về phía khúc sông gần đồn giặc. Đúng như dự kiến, chiếc tàu bo bo của địch từ trong vàm lao ra xé toạc mặt nước, tiếng lính quát lớn bắt chú phải tấp xuồng vào mạn tàu kiểm tra.
Giữa lằn ranh sinh tử, khi mật lệnh tối mật đang nằm ngay trong tay cầm của mình, chỉ cách họng súng AR15 của giặc vài gang tay, chú Năm Chèo vẫn giữ gương mặt ráo hoảnh, bình thản của một lão nông dày dạn sương gió. Chú ghìm xuồng, thong thả gác cặp chèo lên thành ghe rồi cười chất phác: "Mấy thầy đi tuần trưa nắng nực quá ha. Già tranh thủ đi giăng lưới kiếm mớ cá linh về làm mắm, mấy thầy coi giùm chứ thân già này có gì đâu."
Một tên lính dã chiến nhảy phốc xuống xuồng, dùng chân đá mạnh vào giỏ cá làm cá linh bay tung tée trên sàn, rồi dùng gậy sắt thọc liên tiếp xuống gầm sạp ghe để tìm ngăn hầm bí mật. Hắn nhìn quanh một hồi không thấy gì, ánh mắt dừng lại ở cặp chèo gỗ đang gác hờ bên mạn xuồng. Tên lính sấn sổ bước tới, giật lấy chiếc rầm chèo mà chú Năm vừa cầm, đưa lên ngắm nghía rồi đập mạnh hai ba cái vào mạn tàu bo bo nghe tiếng "bốp bốp" đặc nanh của thớ gỗ già.
Sự chủ quan và thói quen khinh rẻ người dân lam lũ khiến tên mật thám nghĩ rằng cặp chèo cũ kỹ, sứt sẹo vì va vào gốc cây này không thể chứa tài liệu cộng sản. Hắn ném trả chiếc chèo xuống sàn xuồng, chửi đổng một tiếng rồi hất hàm: "Thôi cút đi mụ già, làm bẩn hết giày tao!"
Chú Năm Chèo bình thản nhặt cây chèo lên, cười xòa rồi lại đứng thẳng lưng, nhịp nhàng khua mái chèo cho chiếc xuồng lướt nhanh về phía rặng dừa nước khuất bóng giặc. Ngay đêm hôm đó, tại mật khu bên sông, chiếc rầm chèo được rút chốt, dỡ lớp nilon, bản mật lệnh hoàn toàn khô ráo được trao tận tay chỉ huy du kích để kịp thời bày binh bố trận, bẻ gãy hoàn toàn mũi càn quét của địch ngay rạng sáng hôm sau.
Câu chuyện về cặp chèo ba lá của chú Năm Chèo là một sự thật lịch sử sinh động về nghệ thuật ngụy trang và lòng kiên trung của quân và dân An Giang thời hoa lửa. Bằng việc biến chính công cụ mưu sinh bình dị nhất của quê hương thành lá chắn đánh lừa kẻ thù dưới sự lãnh đạo, tổ chức tài tình của Đảng, những người chiến sĩ thầm lặng đã giữ vững mạch máu thông tin liên lạc, góp phần đưa cuộc kháng chiến đi đến ngày đại thắng hoàn toàn.



