Cựu chiến binh

.Cắt sân bay Mường Thanh

“Đầu tháng 3-1954, theo lệnh của cấp trên, chúng tôi hành quân từ nước bạn Lào trở lại Điện Biên Phủ để khẩn trương chuẩn bị vào trận chiến lịch sử. Nhiệm vụ của chúng tôi là đào hào vây lấn...”, Đại tá Nguyễn Quốc Thịnh, nguyên Phó giám đốc Học viện Khoa học quân sự hồi tưởng về những ngày đào hào ở Điện Biên Phủ.

Đồng Nai17/06/2026Phạm Thị Thảo Nguyên (THPT Chu Văn An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Theo giới thiệu của Ban liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 308, chúng tôi tới thăm Đại tá Nguyễn Quốc Thịnh, ở phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên cán bộ thuộc Ban Tác huấn, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 (nay là Ban Tham mưu. Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, Quân đoàn 1). Tuy đã 91 tuổi nhưng ông vẫn có trí nhớ tốt, nhất là những năm tháng chiến đấu ở chiến trường xưa.

Đầu năm 1954, theo lệnh cấp trên, Trung đoàn 88 cùng một số đơn vị hành quân từ nước bạn Lào về Điện Biên để chuẩn bị cho chiến dịch. Theo đó, Trung đoàn 88 có nhiệm vụ đào con đường hào cắt ngang sân bay Mường Thanh. “Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị cán bộ tác huấn của Trung đoàn 88, nhiều đêm tôi cùng các chiến sĩ trinh sát bò ra tận sân bay nghiên cứu, đối chiếu giữa sơ đồ với thực địa. Rút kinh nghiệm nhiều lần ta đào đường hào gần cứ điểm địch, chúng thường kéo quân ra chiếm lại, lần này, chúng tôi phải đào nhiều nhánh hào ngang dọc như xương cá, có cử người ở lại canh gác, hiệp đồng chiến đấu, không cho địch ra san lấp, đặt mìn. Đường hào chạy giữa sân bay trống trải, rất dễ bị máy bay và pháo binh địch tập kích, cần phải có nhiều hầm hàm ếch vững chắc để trú ẩn, nhiều ổ đề kháng chống địch phản kích. Cùng với đó, chúng tôi dự kiến phương án tác chiến rất cụ thể khi tránh máy bay và pháo binh địch tập kích, khi chiến đấu chống bộ binh và xe tăng địch. Tôi còn phải tính toán, hiệp đồng với pháo binh ta và các đơn vị súng cối của Đại đoàn về các điểm chuẩn trên sân bay để gọi bắn chi viện hiệp đồng khi trận chiến xảy ra...”, ông Thịnh nhớ lại.

Công tác chuẩn bị xong, ông Thịnh dẫn cán bộ các đơn vị đi “chia” đất. Hành trang của ông lúc này là những bó cọc tiêu để cắm phần đất phải đào cho từng đơn vị. Khi đào hào, bộ đội rải quân mỗi người cách nhau 3m ở chỗ đất mềm, chỗ đất rắn thì cách nhau 2m. Ban đầu là nằm đào, quỳ đào, ngồi rồi mới đứng đào. Khi đã hoàn thành các hố cá nhân thì nối các hố đó lại. Mỗi hố cá nhân lại tỏa ra nhiều nhánh, nhiều “râu”. Đường hào chui qua cả những xác máy bay địch trên sân bay. Các ghi sắt lát đường cho máy bay lên xuống của địch đều được tận dụng gác ngang miệng hào, đắp đất thành những ụ chiến đấu và hầm trú ẩn. Khi địch phát hiện ta đào đường hào, chúng liên tục bắn đạn pháo và gọi máy bay ném bom, bắn phá. Theo ông Thịnh, từ khi bắt đầu đến lúc hoàn thành đường hào khoảng một tuần, địch kéo quân ra phản kích hàng chục lần, bộ đội ta bị thương vong nhiều. Có thể nói, ngày đêm nào cũng có trận giao tranh trên những tuyến đường hào. Mỗi mét hào đều phải trả bằng máu các chiến sĩ...

“Sáng 7-5-1954, chúng tôi đã phát hiện ở một số nhánh giao thông hào địch lẻ tẻ phất vải trắng ra hàng liền báo tin về Sở chỉ huy Trung đoàn. Đến 17 giờ 30 phút, chúng tôi nghe tin quân ta đã đánh chiếm sở chỉ huy địch, bắt sống tướng De Castries cùng Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm địch. Tôi vui mừng khôn xiết vì Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng...”, ông Thịnh xúc động kể.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn