Cậu bé Hồng
Mùa xuân năm 1975, cậu bé Hồng đã là một thiếu niên. Ngày 26/3 lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu. Hồng theo các chú bộ đội đi đến từng nhà dân. Cậu đã chỉ cho các chú bộ đội nhà của những tên sĩ quan ngụy chưa ra trình diện. Cuộc tiến quân thần tốc “một ngày bằng hai mươi năm” của quân Giải phóng với thế mạnh áp đảo như chẻ tre.
Mùa xuân năm 1975, cậu bé Hồng đã là một thiếu niên. Ngày 26/3 lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu. Hồng theo các chú bộ đội đi đến từng nhà dân. Cậu đã chỉ cho các chú bộ đội nhà của những tên sĩ quan ngụy chưa ra trình diện. Cuộc tiến quân thần tốc “một ngày bằng hai mươi năm” của quân Giải phóng với thế mạnh áp đảo như chẻ tre.
Cả nhà ông Thu hăng hái tham gia ủng hộ bộ đội trong những ngày đầu giải phóng. Nhà ông Thu là nơi ủy ban quân quản đóng để củng cố chính quyền, thiết lập trật tự cuộc sống của người dân. Bây giờ ông mới biết những người đạp xe xích lô của ông là đội quân ngầm của cách mạng. Ông nghe một chú bộ đội nói một số xe đang cần dầu diesel, ông liền cho đội đạp xe xích lô của ông đến các cơ sở trong thành phố để thu mua hoặc đổi xăng lấy dầu diesel cho bộ đội kịp thời tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiều người dân Huế đã tình nguyện dùng xe nhà chở bộ đội vào Nam chiến đấu.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 rồi chiến tranh biên giới Tây Nam, đến biên giới phía Bắc vẫn không có ai đến tìm Hồng. Từ lâu ông Thu đã xem thằng bé là người con cả trong nhà. Ông không hề có sự phân biệt đối xử nên anh không hề biết là con nuôi hay con đẻ. Hồng đã cùng các đứa em thay mặt cha về làng xây lăng mộ cho ông bà, tổ tiên. Ông Thu không dám về làng vì ông mang tiếng là kẻ đi theo giặc. Hơn nữa ông đã quá già, với lại chân cẳng thế này làm sao mà đi được. Mấy năm trước có người nhà của ông Trần Vơn vào Huế xin ông xác nhận ông Vơn là liệt sĩ nhưng không ai tin ông cả. Trong làng ai cũng nói ông là kẻ đầu hàng, kẻ đã theo giặc ở phía bên kia. Người cán bộ phụ trách chính sách thương binh liệt sĩ ở xã nói làm sao mà tin được đối phương, kẻ đã từng đi theo giặc. Ông Thu không đủ tư cách xác nhận ông Vơn là liệt sĩ. Ông Thu thì khẳng định hôm đó bọn địch giết ông Vơn, chúng vứt xác ông nằm bên mép nước, đúng lúc con nước ròng. Có lẽ xác ông đã trôi ra biển cả, nhưng chắc chắn linh hồn ông vẫn còn quanh quẩn ở quê hương. Nhiều đêm nằm mơ, ông Thu vẫn thấy ông Vơn trở về trò chuyện với ông. Ông ấy nói thương cho người đã chết và ngay cả những người như ông khi đang còn sống.
*
* *
Ngày 30 tháng 4 năm 2024, tôi dẫn anh Hồng và những đồng đội cũ, các cựu chiến binh Tiểu đoàn 815 bộ binh, Trung đoàn 9 anh hùng về thăm quê hương của ông Thu. Lần đầu tiên ông Thu trở về thăm lại làng tôi sau hơn bảy chục năm xa cách. Ông ngồi trên chiếc xe con do anh Hồng, con trai ông lái. Ông muốn gặp lại đồng đội cũ, những cựu chiến binh ở chi đội Lê Trực ngày xưa nhưng không còn ai nữa. Cảnh vật ở đây đã đổi khác hoàn toàn. Không còn tiếng gõ reo của những chiếc thuyền chài trên sông. Dọc sông là các lồng nuôi cá chẻm, cá mú. Dòng sông Gianh lượn lờ uốn khúc không còn bóng cây xanh mọc ở ven bờ. Những rặng bần lúc lỉu quả đã vắng bóng. Hai bên bờ là dãy kè đá vững chắc giữ con đê bằng bê tông chạy dọc bờ sông, trong lũ lụt. Những mái nhà tranh lúp xúp dưới lũy tre làng đã được thay thế bằng những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi. Nhiều dãy nhà cao tầng mọc lên san sát. Cả làng tôi vui như đón tết. Hội Cựu chiến binh của xã tổ chức lễ đón nhận hài cốt của ông Vơn được đưa về làng rất trang trọng. Lễ truy điệu, phủ quân kỳ cho ông Vơn được tổ chức tại hội trường trụ sở ủy ban nhân dân xã. Có cả cán bộ lãnh đạo của tỉnh, huyện về dự nữa. Hồn cốt của ông Vơn nằm trong ngôi mộ gió. Trong quan tài ông là một bộ cốt làm bằng cây dâu tằm với những nắm đất bốc lên từ mố cầu Bùng và bãi cỏ dọc sông Son nơi ông ngã xuống năm xưa.
Ông Thu được mời lên phát biểu. Ông nghẹn ngào không nói nên lời. Người dân làng tôi đã thay đổi cách nhìn đối với ông. Từ thái độ khinh bỉ, chê bai, họ đã chuyển sang kính phục và lòng biết ơn. Ông vẫn giữ vững phẩm chất của một người lính, của bộ đội Cụ Hồ. Họ nói ông là chứng nhân của lịch sử, viên ngọc sáng lấp lánh bị che khuất bởi lớp bụi của thời gian.
Mùa xuân năm 1975, cậu bé Hồng đã là một thiếu niên. Ngày 26/3 lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu. Hồng theo các chú bộ đội đi đến từng nhà dân. Cậu đã chỉ cho các chú bộ đội nhà của những tên sĩ quan ngụy chưa ra trình diện. Cuộc tiến quân thần tốc “một ngày bằng hai mươi năm” của quân Giải phóng với thế mạnh áp đảo như chẻ tre.
Cả nhà ông Thu hăng hái tham gia ủng hộ bộ đội trong những ngày đầu giải phóng. Nhà ông Thu là nơi ủy ban quân quản đóng để củng cố chính quyền, thiết lập trật tự cuộc sống của người dân. Bây giờ ông mới biết những người đạp xe xích lô của ông là đội quân ngầm của cách mạng. Ông nghe một chú bộ đội nói một số xe đang cần dầu diesel, ông liền cho đội đạp xe xích lô của ông đến các cơ sở trong thành phố để thu mua hoặc đổi xăng lấy dầu diesel cho bộ đội kịp thời tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiều người dân Huế đã tình nguyện dùng xe nhà chở bộ đội vào Nam chiến đấu.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 rồi chiến tranh biên giới Tây Nam, đến biên giới phía Bắc vẫn không có ai đến tìm Hồng. Từ lâu ông Thu đã xem thằng bé là người con cả trong nhà. Ông không hề có sự phân biệt đối xử nên anh không hề biết là con nuôi hay con đẻ. Hồng đã cùng các đứa em thay mặt cha về làng xây lăng mộ cho ông bà, tổ tiên. Ông Thu không dám về làng vì ông mang tiếng là kẻ đi theo giặc. Hơn nữa ông đã quá già, với lại chân cẳng thế này làm sao mà đi được. Mấy năm trước có người nhà của ông Trần Vơn vào Huế xin ông xác nhận ông Vơn là liệt sĩ nhưng không ai tin ông cả. Trong làng ai cũng nói ông là kẻ đầu hàng, kẻ đã theo giặc ở phía bên kia. Người cán bộ phụ trách chính sách thương binh liệt sĩ ở xã nói làm sao mà tin được đối phương, kẻ đã từng đi theo giặc. Ông Thu không đủ tư cách xác nhận ông Vơn là liệt sĩ. Ông Thu thì khẳng định hôm đó bọn địch giết ông Vơn, chúng vứt xác ông nằm bên mép nước, đúng lúc con nước ròng. Có lẽ xác ông đã trôi ra biển cả, nhưng chắc chắn linh hồn ông vẫn còn quanh quẩn ở quê hương. Nhiều đêm nằm mơ, ông Thu vẫn thấy ông Vơn trở về trò chuyện với ông. Ông ấy nói thương cho người đã chết và ngay cả những người như ông khi đang còn sống.
*
* *
Ngày 30 tháng 4 năm 2024, tôi dẫn anh Hồng và những đồng đội cũ, các cựu chiến binh Tiểu đoàn 815 bộ binh, Trung đoàn 9 anh hùng về thăm quê hương của ông Thu. Lần đầu tiên ông Thu trở về thăm lại làng tôi sau hơn bảy chục năm xa cách. Ông ngồi trên chiếc xe con do anh Hồng, con trai ông lái. Ông muốn gặp lại đồng đội cũ, những cựu chiến binh ở chi đội Lê Trực ngày xưa nhưng không còn ai nữa. Cảnh vật ở đây đã đổi khác hoàn toàn. Không còn tiếng gõ reo của những chiếc thuyền chài trên sông. Dọc sông là các lồng nuôi cá chẻm, cá mú. Dòng sông Gianh lượn lờ uốn khúc không còn bóng cây xanh mọc ở ven bờ. Những rặng bần lúc lỉu quả đã vắng bóng. Hai bên bờ là dãy kè đá vững chắc giữ con đê bằng bê tông chạy dọc bờ sông, trong lũ lụt. Những mái nhà tranh lúp xúp dưới lũy tre làng đã được thay thế bằng những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi. Nhiều dãy nhà cao tầng mọc lên san sát. Cả làng tôi vui như đón tết. Hội Cựu chiến binh của xã tổ chức lễ đón nhận hài cốt của ông Vơn được đưa về làng rất trang trọng. Lễ truy điệu, phủ quân kỳ cho ông Vơn được tổ chức tại hội trường trụ sở ủy ban nhân dân xã. Có cả cán bộ lãnh đạo của tỉnh, huyện về dự nữa. Hồn cốt của ông Vơn nằm trong ngôi mộ gió. Trong quan tài ông là một bộ cốt làm bằng cây dâu tằm với những nắm đất bốc lên từ mố cầu Bùng và bãi cỏ dọc sông Son nơi ông ngã xuống năm xưa.
Ông Thu được mời lên phát biểu. Ông nghẹn ngào không nói nên lời. Người dân làng tôi đã thay đổi cách nhìn đối với ông. Từ thái độ khinh bỉ, chê bai, họ đã chuyển sang kính phục và lòng biết ơn. Ông vẫn giữ vững phẩm chất của một người lính, của bộ đội Cụ Hồ. Họ nói ông là chứng nhân của lịch sử, viên ngọc sáng lấp lánh bị che khuất bởi lớp bụi của thời gian.


