Cậu bé phải dùng que mới với tới bảng
Mới khoảng 12 tuổi, Nguyễn Trung Thiếp đã đứng lớp Bình dân học vụ tại một làng quê Nghệ An. Vì thấp hơn cả tấm bảng, cậu phải dùng một chiếc que để chỉ chữ. Từ lớp học nhỏ ấy, ông dành mười năm giúp người dân thoát nạn mù chữ và trở thành Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành giáo dục.
Năm 1945, tại một lớp Bình dân học vụ ở vùng quê Diễn Châu, Nghệ An, người đứng trước bảng còn nhỏ hơn nhiều học viên ngồi phía dưới.
Đó là Nguyễn Trung Thiếp, một cậu bé mới khoảng 12 tuổi.
Thiếp thấp đến mức cánh tay không thể với tới phần trên của bảng. Muốn chỉ cho học viên nhận mặt từng con chữ, cậu phải cầm một chiếc que dài. Phía dưới lớp là những người đã trưởng thành, có người đáng tuổi cha mẹ, ông bà của cậu. Họ đến lớp sau một ngày làm ruộng, trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu.
Người thầy nhỏ tuổi ấy không có bằng sư phạm. Vốn chữ của cậu chỉ đến trình độ lớp bốn. Nhưng ở làng quê khi đó, một người đọc thông, viết được đã thuộc số ít người có khả năng giúp những người khác học chữ.
Nguyễn Trung Thiếp sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Diễn Bình. Mẹ mất khi Thiếp mới năm tuổi. Cậu lớn lên trong sự chăm sóc của bà nội, cũng là người đầu tiên dạy cậu chữ Hán, chữ Nho và chữ Quốc ngữ.
Nhờ sáng dạ và ham học, Thiếp học hết lớp bốn – một trình độ không phổ biến đối với trẻ em nông thôn nghèo thời bấy giờ.
Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, một trong những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới là chống nạn mù chữ. Theo số liệu được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong những ngày đầu lập nước, hơn 90% đồng bào Việt Nam khi ấy không biết chữ.
Ngày 8 tháng 9 năm 1945, chỉ sáu ngày sau lễ Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ thành lập Nha Bình dân học vụ, phát động toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ. Tinh thần chung của phong trào là người biết chữ dạy người chưa biết; mỗi gia đình có thể trở thành một lớp học.
Nguyễn Trung Thiếp ban đầu muốn được ra chiến trường. Nhưng vì còn quá nhỏ, cậu không được nhận vào đơn vị chiến đấu. Những người đi trước động viên cậu rằng nếu chưa thể trở thành chiến sĩ đánh giặc ngoại xâm thì có thể làm chiến sĩ diệt “giặc dốt”.
Cậu bé nhận nhiệm vụ.
Lớp học không có đủ bàn ghế và sách vở. Người dân ban ngày phải lao động nên việc học thường diễn ra vào buổi tối. Ánh sáng đến từ đèn dầu; giấy và bút đều thiếu. Người dạy phải nghĩ ra cách giúp học viên nhớ chữ nhanh, còn người học phải chiến thắng sự mệt mỏi và mặc cảm vì tuổi đã cao mà vẫn bắt đầu từ những nét chữ đầu tiên.
Khó khăn lớn nhất không chỉ nằm trong lớp học.
Nhiều người muốn học nhưng không thể rời con nhỏ. Một số người sau vài buổi lại bỏ vì công việc đồng áng. Có học viên tiếp thu nhanh, nhưng cũng có người phải được hướng dẫn nhiều lần mới nhớ được một chữ.
Nguyễn Trung Thiếp hiểu rằng chỉ đứng lớp thì chưa đủ. Muốn xóa mù chữ, phải giúp từng người vượt qua lý do khiến họ không thể đến lớp.
Ông đề nghị các cụ ông trong làng cùng vận động người dân đi học và thường xuyên đến thăm các lớp. Các cụ bà được tổ chức luân phiên trông trẻ, nhờ đó những người mẹ có con nhỏ cũng có thời gian học chữ.
Ông còn tham gia đưa việc nhận biết chữ vào sinh hoạt hằng ngày. Một trong những hình thức được nhắc lại là khuyến khích người dân muốn qua cổng chợ phải nhận biết hoặc đọc được chữ. Việc học vì thế không còn bị giới hạn trong lớp, mà xuất hiện ngay trên đường đi chợ và trong đời sống thường nhật.
Từ một người dạy học nhỏ tuổi, Nguyễn Trung Thiếp trở thành tổ trưởng Bình dân học vụ của làng Vân Tập, rồi Trưởng ban Bình dân học vụ xã Diễn Bình.
Có lần, vì thiếu ăn nhưng vẫn mải miết đứng lớp, ông đói lả và ngất ngay trong lúc đang dạy. Khi tỉnh lại, công việc xóa mù chữ vẫn tiếp tục.
Phong trào Bình dân học vụ tại địa phương dần đạt kết quả nổi bật. Trong khu vực có mười xã hoàn thành 100% kế hoạch. Nhiều người nông dân lần đầu tiên có thể tự đọc thông báo, viết tên mình hoặc làm những phép tính đơn giản.
Biết chữ không chỉ đem lại niềm vui cá nhân.
Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, người dân biết đọc có thể tiếp nhận chủ trương kháng chiến, đọc hướng dẫn sản xuất và trao đổi thư từ với người thân ngoài mặt trận. Người chưa từng ký được tên mình bắt đầu có thể tham gia các công việc của chính quyền và đoàn thể.
Nguyễn Trung Thiếp dành mười năm cho phong trào Bình dân học vụ. Trong thời gian ấy, ông được khen thưởng 45 lần và sáu năm liên tiếp được công nhận là chiến sĩ thi đua diệt giặc dốt.
Năm 1958, ông được tuyên dương Anh hùng Lao động. Ông được xem là Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành giáo dục Việt Nam.
Trong dịp tuyên dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng ông một bộ quần áo, một chiếc bút, huy hiệu và kẹo. Nguyễn Trung Thiếp chia số kẹo cho bà con. Những kỷ vật còn lại sau này được lưu giữ, trưng bày tại Khu di tích Kim Liên ở Nghệ An.
Từ người thầy phải dùng que mới với tới bảng, Nguyễn Trung Thiếp tiếp tục gắn bó với giáo dục. Ông từng làm Hiệu trưởng Trường Bổ túc văn hóa tỉnh, Phó trưởng Ty Giáo dục Nghệ An và sau này là Phó chánh Thanh tra Bộ Giáo dục.
Nhưng phần đặc biệt nhất trong cuộc đời ông có lẽ vẫn là lớp học đầu tiên.
Ở đó, người thầy chỉ là một cậu bé. Học viên là những người lớn tuổi với đôi bàn tay chai sần. Bảng viết thiếu thốn, ánh đèn rất yếu và bên ngoài đất nước đang đứng trước muôn vàn thử thách.
Cậu bé ấy không tiêu diệt một đồn giặc, cũng không lập chiến công bằng súng đạn. Cậu cầm một chiếc que, chỉ vào từng con chữ và giúp những người dân quê mình bước ra khỏi bóng tối của nạn mù chữ.
Đó cũng là một câu chuyện lịch sử.
Bởi một đất nước vừa giành được độc lập chỉ thật sự vững mạnh khi người dân của đất nước ấy có thể đọc, viết và tự mình tiếp nhận ánh sáng của tri thức.



