Cựu chiến binh

CÂU CHUYỆN 1

Tôi năm nay đã bước sang tuổi tám mươi chín. Mỗi độ tháng Tám về, khi những con đường quê xã Hải Châu rực rỡ cờ đỏ sao vàng, lòng tôi lại bồi hồi như được sống lại những năm tháng không thể nào quên của cuộc đời mình. Những đứa cháu thường chạy đến hỏi: "Ông ơi, sao năm nào đến ngày Quốc khánh ông cũng đứng thật lâu trước lá cờ Tổ quốc?" Tôi chỉ mỉm cười, đôi mắt nhìn về phía lá cờ đang tung bay trong nắng, rồi chậm rãi đáp:

Nghệ An07/07/2026VŨ THỊ THÙY TRANG (thôn hùng nghĩa xã hải châu tỉnh nghệ an)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

TÁC GIẢ: VŨ THỊ THÙY TRANG

CÂU CHUYỆN 1

Tôi năm nay đã bước sang tuổi tám mươi chín. Mỗi độ tháng Tám về, khi những con đường quê xã Hải Châu rực rỡ cờ đỏ sao vàng, lòng tôi lại bồi hồi như được sống lại những năm tháng không thể nào quên của cuộc đời mình. Những đứa cháu thường chạy đến hỏi: "Ông ơi, sao năm nào đến ngày Quốc khánh ông cũng đứng thật lâu trước lá cờ Tổ quốc?" Tôi chỉ mỉm cười, đôi mắt nhìn về phía lá cờ đang tung bay trong nắng, rồi chậm rãi đáp: "Bởi để có được lá cờ ấy tung bay giữa bầu trời hòa bình hôm nay, biết bao người đã gửi lại tuổi xuân của mình nơi chiến trường." Tôi sinh ra khi đất nước còn chìm trong cảnh nô lệ. Tuổi thơ của tôi không có những ngày tháng bình yên như các cháu bây giờ. Đó là những năm tháng đói nghèo, áp bức và chiến tranh luôn rình rập. Mẹ tôi kể rằng ngày tôi mới biết đi, cả làng đã phải chạy tán loạn vì tiếng súng và bom đạn. Những cánh đồng vốn xanh mướt lúa ngô trở thành bãi đất cháy xém, nhiều ngôi nhà chỉ còn là đống tro tàn. Chúng tôi lớn lên cùng tiếng còi báo động, cùng những căn hầm trú ẩn và những bữa cơm chỉ có khoai, sắn chia nhau từng miếng nhỏ.

Thế nhưng, giữa những ngày tháng tối tăm ấy, người dân quê tôi chưa bao giờ đánh mất niềm tin. Ban đêm, dưới ánh đèn dầu leo lét, các cụ già thường kể cho lớp trẻ chúng tôi nghe về khát vọng độc lập, về một ngày đất nước sẽ thuộc về chính người Việt Nam. Những câu chuyện ấy như ngọn lửa nhỏ âm thầm cháy trong trái tim của mỗi người. Rồi mùa Thu năm 1945 đến. Dù khi ấy tôi còn rất nhỏ, nhưng hình ảnh ngày cả làng náo nức đón tin Cách mạng Tháng Tám thành công vẫn in sâu trong ký ức. Người lớn ôm chầm lấy nhau, có người vừa cười vừa khóc. Họ nói với nhau rằng từ hôm nay dân mình đã có quyền làm chủ đất nước. Vài ngày sau, cả làng tập trung trước sân đình để nghe đọc bản tin về Tuyên ngôn Độc lập. Tôi không hiểu hết những lời ấy, nhưng tôi nhớ rất rõ ánh mắt của cha mình. Chưa bao giờ tôi thấy cha rơi nước mắt. Vậy mà hôm ấy, người đàn ông cứng rắn ấy lặng lẽ lau vội hai hàng nước mắt rồi nói: "Từ hôm nay, nước mình là nước độc lập."

Thế nhưng niềm vui ấy chưa được bao lâu thì chiến tranh lại tiếp tục. Để giữ vững nền độc lập vừa giành được, biết bao người con đất Việt lại lên đường. Khi tôi vừa tròn mười tám tuổi, tôi cũng viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Mẹ cẩn thận vá lại chiếc áo màu cỏ úa cho tôi, gói thêm ít gạo rang và dúi vào tay tôi chiếc khăn tay đã sờn mép. Mẹ không khóc. Bà chỉ nói một câu mà tôi nhớ suốt đời: "Con đi giữ lấy nền độc lập mà bao người đã đổi bằng máu. Nếu phải hy sinh, mẹ sẽ đau, nhưng mẹ sẽ không bao giờ hối tiếc." Chiến trường khốc liệt hơn bất cứ điều gì tôi từng hình dung. Có những ngày đơn vị phải hành quân xuyên rừng suốt nhiều giờ liền dưới mưa bom. Có đêm cả tiểu đội nằm ép sát xuống đất, chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng có thể đổi lấy cái chết. Chúng tôi ăn cơm vắt, uống nước suối, ngủ giữa rừng sâu, nhưng chưa ai từng nghĩ đến chuyện lùi bước. Ai cũng mang trong tim một niềm tin rằng chỉ cần đất nước được bình yên thì mọi gian khổ đều xứng đáng. Tôi còn nhớ người đồng đội thân thiết nhất của mình tên Hưng. Hưng quê ở miền Trung, dáng người gầy nhưng lúc nào cũng cười rất tươi. Mỗi lần nghỉ chân, cậu ấy lại lấy chiếc harmonica nhỏ ra thổi vài giai điệu quê hương. Hưng thường bảo: "Sau này hòa bình, tao sẽ về dạy học. Tao muốn lũ trẻ được học trong lớp học có tiếng chim, chứ không phải tiếng bom." Chúng tôi cười với nhau và cùng hẹn, ngày đất nước thống nhất sẽ đưa nhau về thăm quê.

Nhưng chiến tranh không cho ai quyền chọn lựa. Trong một trận đánh ác liệt, Hưng lao ra kéo một đồng đội bị thương vào hầm. Một tiếng nổ chát chúa vang lên. Khi chúng tôi chạy đến, Hưng đã nằm bất động. Trong túi áo của cậu ấy vẫn còn bức thư chưa kịp gửi về cho mẹ. Tôi cầm lá thư ấy mà nước mắt cứ chảy mãi. Ngày tiễn Hưng, cả đơn vị đứng lặng giữa cánh rừng. Không một tiếng khóc thành lời, chỉ có những bàn tay siết chặt khẩu súng và lời hứa sẽ tiếp tục chiến đấu đến cùng. Nhiều năm sau, ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, tôi đứng giữa dòng người reo mừng mà lòng nghẹn lại. Tôi vui vì chiến tranh đã kết thúc, nhưng cũng đau khi nhớ đến những người đồng đội mãi mãi không thể trở về. Họ đã gửi lại tuổi hai mươi nơi chiến trường để chúng tôi có được ngày hôm nay. Tôi trở về quê trong vòng tay của mẹ già. Mái tóc mẹ đã bạc trắng, đôi mắt đã mờ đi vì những tháng năm chờ đợi. Bà ôm tôi thật chặt rồi khóc như một đứa trẻ. Nhưng trong làng, không phải người mẹ nào cũng có niềm hạnh phúc ấy. Có những mái nhà mãi mãi không còn tiếng gọi "con về rồi mẹ ơi". Có những người vợ ôm di ảnh chồng suốt cả cuộc đời. Có những đứa trẻ lớn lên chỉ biết cha mình qua vài dòng ghi trên bia mộ. Thời gian trôi đi, quê hương từng ngày đổi mới. Những hố bom năm nào giờ đã thành cánh đồng lúa vàng óng. Con đường đất lầy lội được thay bằng những tuyến đường rộng rãi. Trường học khang trang, trạm y tế sạch đẹp, nhà văn hóa rộn ràng tiếng cười. Mỗi lần nhìn thấy các cháu học sinh tung tăng trong màu áo trắng, tôi lại nghĩ đến Hưng và những người đồng đội đã ngã xuống. Có lẽ điều họ mong nhất cũng chỉ là một đất nước như hôm nay – nơi trẻ em được cắp sách đến trường trong tiếng trống khai giảng chứ không phải tiếng bom rơi.

Năm nay, khi cả nước hân hoan kỷ niệm “80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 tháng 9”, tôi lại càng thấm thía ý nghĩa của hai chữ “Độc Lập”. Tám mươi năm không phải là quãng thời gian quá dài trong lịch sử dân tộc, nhưng đủ để một đất nước từng chìm trong chiến tranh vươn mình mạnh mẽ, đủ để những cánh đồng hoang hóa ngày nào trở thành những miền quê trù phú, đủ để một thế hệ sinh ra chỉ biết đến chiến tranh qua những trang sách lịch sử. Tôi muốn nhắn gửi đến thế hệ trẻ xã Hải Châu rằng, các cháu là những người may mắn được sinh ra trong hòa bình. Các cháu không phải cầm súng ra trận như cha ông, nhưng trên vai các cháu vẫn có một sứ mệnh lớn lao: giữ gìn và xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu đẹp. Hãy học tập thật tốt, sống trung thực, biết yêu thương con người, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, góp sức xây dựng quê hương bằng chính trí tuệ và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Đó chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối truyền thống của các thế hệ đi trước.

Nếu một ngày nào đó các cháu đi ngang qua nghĩa trang liệt sĩ hay đứng trước lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió, hãy dành một phút lặng im để nhớ rằng màu đỏ của lá cờ không chỉ là màu của niềm tin và khát vọng, mà còn gợi nhắc đến sự hy sinh của biết bao người con đất Việt. Hãy sống sao để mỗi ngày trôi qua đều là một lời tri ân đối với lịch sử, để khi nhìn về tương lai, chúng ta có thể tự hào nói với thế giới rằng: “Việt Nam hôm nay được dựng xây từ ý chí bất khuất của cha ông và đang được tiếp nối bằng khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ.”. Đó cũng là niềm tự hào lớn nhất của một người lính già như tôi khi được chứng kiến đất nước bước vào mùa độc lập thứ tám mươi – một Việt Nam hòa bình, đoàn kết, phát triển và luôn ngẩng cao đầu trước bạn bè năm châu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn