Thân nhân liệt sĩ, người có công

Câu chuyện 10

Lá thư đã úa vàng theo năm tháng, những nếp gấp đã sờn cũ, nét mực tím cũng nhạt dần vì thời gian. Tôi luôn cất nó trong một chiếc phong bì vải, đặt ngay ngăn trên cùng của chiếc tủ gỗ đã theo gia đình suốt mấy chục năm. Mỗi dịp tháng Tám, khi khắp quê hương Hải Châu rực rỡ cờ hoa chào mừng Quốc khánh, tôi lại nhẹ nhàng lấy lá thư ấy ra đọc.

Nghệ An07/07/2026Hồ Minh Sỹ (thôn hùng nghĩa xã hải châu tịnh nghệ an)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN 10

Lá thư đã úa vàng theo năm tháng, những nếp gấp đã sờn cũ, nét mực tím cũng nhạt dần vì thời gian. Tôi luôn cất nó trong một chiếc phong bì vải, đặt ngay ngăn trên cùng của chiếc tủ gỗ đã theo gia đình suốt mấy chục năm. Mỗi dịp tháng Tám, khi khắp quê hương Hải Châu rực rỡ cờ hoa chào mừng Quốc khánh, tôi lại nhẹ nhàng lấy lá thư ấy ra đọc.

Đó là một lá thư chưa từng được gửi.

Không phải vì người viết đổi ý.

Mà bởi người viết đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường trước khi kịp dán con tem cuối cùng.

Người viết lá thư ấy là anh trai tôi – anh Quân.

Ngày anh lên đường nhập ngũ, tôi mới lên tám tuổi. Tuổi thơ của tôi gắn với hình ảnh anh trai gầy gò nhưng khỏe mạnh, mỗi chiều đi cắt cỏ về lại cõng tôi chạy quanh sân. Nhà nghèo, quần áo anh lúc nào cũng vá chằng vá đụp, nhưng mỗi lần đi học, anh luôn nhường cho tôi chiếc áo lành nhất.

Anh thường nói:

– "Em cố học thật giỏi nhé. Sau này đất nước hòa bình, anh sẽ dành dụm tiền cho em học lên cao."

Khi ấy tôi chẳng hiểu chiến tranh là gì.

Tôi chỉ biết một ngày kia, cả làng tập trung ở sân đình để tiễn những thanh niên lên đường. Mẹ gói cho anh vài nắm cơm nếp, ít muối vừng và chiếc áo bông đã cũ. Cha không nói nhiều, chỉ đặt bàn tay chai sần lên vai anh thật lâu.

Trước lúc bước lên xe, anh quay lại cười.

Nụ cười ấy đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ.

Không có nước mắt.

Không có sự yếu lòng.

Chỉ có ánh mắt đầy quyết tâm của một chàng trai vừa tròn hai mươi tuổi.

Những tháng đầu, thư anh gửi về đều đặn.

Anh kể đơn vị phải hành quân xuyên rừng, băng qua suối, nhiều hôm ngủ dưới tán lá, sáng dậy quần áo còn đẫm sương. Nhưng điều khiến cả nhà yên tâm là lá thư nào anh cũng viết:

"Cha mẹ đừng lo cho con. Đồng đội thương nhau như anh em một nhà. Con vẫn khỏe."

Mẹ đọc thư xong thường gấp lại rất cẩn thận rồi cất vào chiếc hộp gỗ đặt trên bàn thờ.

Bà bảo:

– "Mai này Quân về, mẹ sẽ lấy ra cho nó đọc lại."

Thế nhưng...

Ngày ấy đã không bao giờ đến.

Một buổi chiều cuối năm, người cán bộ xã mang đến nhà một ba lô nhỏ và vài kỷ vật của anh.

Trong ba lô chỉ còn vài bộ quần áo bạc màu, một cuốn sổ tay và lá thư chưa kịp gửi.

Không ai dám mở.

Mẹ ôm chiếc ba lô vào lòng rồi khóc đến lịm đi.

Phải vài ngày sau, cha mới đủ bình tĩnh để lấy lá thư ra.

Tôi vẫn nhớ như in từng dòng chữ anh viết.

*"Cha mẹ kính yêu!

Nếu thư này đến được tay cha mẹ thì chắc con vẫn đang trên đường làm nhiệm vụ. Những ngày ở đơn vị tuy gian khổ nhưng ai cũng lạc quan. Mỗi lần nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay, con lại nhớ đến quê mình..."*

Anh kể rất nhiều chuyện.

Chuyện đồng đội nhường nhau từng ngụm nước.

Chuyện bà con vùng giải phóng san sẻ từng củ khoai.

Chuyện những đêm hành quân dưới trời mưa, ai cũng chỉ mong chiến tranh sớm kết thúc để được trở về.

Ở cuối thư, anh viết:

"Con chỉ mong sau này quê mình sẽ có trường học đẹp hơn, đường làng rộng hơn. Trẻ con sẽ không còn phải học trong tiếng bom nữa. Nếu ngày ấy đến, cha mẹ hãy thay con ngắm nhìn quê hương đổi mới."

Nhưng dòng cuối cùng...

Chỉ mới viết dở.

"Con hứa sẽ..."

Rồi dừng lại.

Có lẽ khi ấy đơn vị nhận lệnh hành quân.

Có lẽ anh định viết tiếp khi rảnh hơn.

Nhưng anh đã không còn cơ hội.

Lá thư ấy mãi mãi chỉ là một lời hứa dang dở.

Chiến tranh kết thúc.

Đất nước thống nhất.

Niềm vui lan khắp mọi miền.

Người dân ùa ra đường trong tiếng reo hò.

Cha tôi đứng trước bàn thờ anh rất lâu.

Ông cầm lá thư lên, vuốt phẳng từng nếp giấy rồi khẽ nói:

– "Con ạ... đất nước mình hòa bình thật rồi."

Đó là lần đầu tiên tôi thấy cha khóc.

Không thành tiếng.

Chỉ lặng lẽ để nước mắt rơi.

Năm tháng trôi qua.

Đúng như điều anh từng mong ước, quê hương thay đổi từng ngày.

Con đường đất lầy lội ngày nào đã được bê tông hóa.

Những mái trường cao tầng mọc lên giữa cánh đồng.

Trẻ em cắp sách đến trường trong tiếng cười rộn rã.

Không còn những buổi học phải chui xuống hầm tránh bom.

Không còn những đêm cả làng tắt đèn vì sợ máy bay.

Mỗi lần nhìn thấy cuộc sống bình yên ấy, tôi lại lấy lá thư của anh ra đọc.

Đọc không phải để buồn.

Mà để nhớ.

Nhớ rằng có một người đã gửi cả tuổi hai mươi vào chiến trường để đổi lấy những điều bình dị mà hôm nay chúng ta đang có.

Năm nay, khi cả nước long trọng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 tháng 9, xã Hải Châu tổ chức buổi gặp mặt các nhân chứng lịch sử và đoàn viên thanh niên.

Ban tổ chức mời tôi chia sẻ.

Tôi không mang theo huân chương.

Cũng không mang theo những kỷ vật lớn lao.

Tôi chỉ mang theo lá thư cũ.

Tôi mở lá thư trước hàng trăm bạn trẻ.

Đọc từng dòng chữ của anh.

Cả hội trường lặng đi.

Đến đoạn cuối còn dang dở, tôi gấp lá thư lại.

Một em học sinh đứng lên hỏi:

– "Bác ơi, nếu được viết tiếp dòng cuối của lá thư, bác sẽ viết gì thay anh?"

Tôi nhìn lên lá cờ Tổ quốc đang tung bay ngoài cửa sổ.

Một lúc lâu sau mới trả lời.

– "Anh tôi từng viết: 'Con hứa sẽ...'. Bác nghĩ, điều anh ấy muốn viết có lẽ là: 'Con hứa sẽ trở về.' Nhưng anh đã không thể thực hiện lời hứa ấy. Vì thế, hôm nay chính thế hệ các cháu sẽ là người viết tiếp lá thư đó."

Các em nhìn tôi đầy xúc động.

Tôi nói tiếp:

– "Hãy viết tiếp bằng những việc làm của mình. Học tập thật tốt. Sống tử tế. Yêu quê hương. Giữ gìn truyền thống. Lao động bằng tất cả trách nhiệm và khát vọng. Đừng để sự hy sinh của những người đi trước chỉ còn nằm trong những trang sách hay những buổi lễ kỷ niệm. Hãy để lòng yêu nước hiện diện trong từng hành động nhỏ mỗi ngày."

Buổi giao lưu kết thúc.

Tôi cẩn thận gấp lá thư lại như cách mẹ tôi đã từng làm.

Ngoài sân, nắng tháng Tám rực rỡ trải dài trên những hàng cờ đỏ sao vàng.

Tiếng cười của học sinh vang lên từ ngôi trường mới xây đối diện hội trường.

Tôi bỗng mỉm cười.

Dòng cuối của lá thư năm nào tuy mãi mãi còn dang dở, nhưng cuộc đời đã tự viết tiếp bằng một cái kết đẹp hơn bất kỳ lời văn nào.

Đó là một đất nước hòa bình.

Một quê hương Hải Châu đang từng ngày đổi mới.

Một thế hệ trẻ tự tin, tri thức và đầy khát vọng.

Và đó cũng chính là điều mà anh trai tôi cùng biết bao người con của dân tộc đã gửi gắm bằng cả tuổi thanh xuân trong những năm tháng thời hoa lửa.

Bởi có những lá thư không bao giờ được gửi đến người nhận, nhưng lại được gửi đến tương lai của cả một dân tộc. Mỗi mùa Thu độc lập trở về, những lá thư ấy vẫn âm thầm nhắc nhở chúng ta rằng: hòa bình là món quà vô giá, và trách nhiệm của thế hệ hôm nay là gìn giữ, vun đắp để Việt Nam mãi mãi phát triển, hùng cường và xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn