CÂU CHUYỆN 19
Chưa bao giờ suối Là Va hung dữ như mùa nước năm nay. Nửa đêm hôm ấy, trời vẫn mưa lớn lắm, cái chứng tiểu đêm buộc bà thức dậy ra ngoài. Bà thấy nhà chao đảo bà ngỡ mình chóng mặt. Bốn năm nay, ở trong căn nhà xây mới, bà rất yên tâm mỗi khi trời mưa gió. Bà vội sờ lên đầu giường, vớ cái đèn pin lao ra cửa. Soi xuống, đã thấy ầng ậng biển nước ngay giáp rặng thùng lục trong vườn. Nước gầm réo như đàn ngựa ngàn con đang ở đâu lao về. “Ông ơi!”-Bà gào thất thanh: “Duy ơi! Cả nhà dậy thôi!”. Bà nhào vào buồng con dâu ôm lấy thằng bé bốn tháng. Vợ Duy bế thằng lớn năm tuổi. Duy dắt bố chạy. Tất cả bật ra khỏi nhà chạy thốc lên phía đường mòn phía sau lưng hô hoán cả chòm...
Dậy thôi! Lũ quét. Dậy thôi! Cứ thế, những tiếng hô hào loang ra khắp bản lúc gà gáy. Chỉ chục phút sau, dòng Là Va hung dữ đã quét phăng toàn bộ nhà cửa, hoa màu vườn tược trên lộ trình của nó. Cơn thịnh nộ của đất trời đã biến dòng suối hiền lành thơ mộng thành dòng sông mênh mang và hung dữ. Khi mọi người yên vị trên vách núi Cú và kiểm đếm, thì thấy thiếu thằng Duy. Bà Luy hoảng hốt gọi tên con. Tất cả mọi người đều gọi, nhưng không thấy Duy lên tiếng. Đêm đen bao phủ. Vợ Duy vật vã kêu gào gọi chồng. Tiếng ông Hạnh: “Tôi đã giết con rồi bà ơi. Nó bảo quay về nhà nhưng tôi không quyết liệt ngăn cản nó. Trời ơi! Quay về nhà làm gì?”. Tiếng vợ Duy nức nở nghẹn ngào: “Chắc anh ấy quay về nhà lấy số tiền bán trâu cô Dung gửi rồi mẹ ơi”. Dung là con gái bà, lấy chồng bản trên, bán con trâu được hai chục triệu đồng chờ được ngày thì sửa nhà nên đem nhờ anh trai cất.
Đến sáng cũng không thấy Duy đâu. Cả mẹ chồng với con dâu đều lịm đi. Ba ngày sau, bộ đội công binh tìm thấy Duy tận dưới bản Quỳ. Đúng khúc ngoặt của suối Là Va dưới chân cầu treo. Căn nhà của bà Luy ở thấp nhất bị lũ cuốn mất, không để lại chút dấu vết gì. Các nhà còn lại đổ nát hoặc sập xuống, bùn đất vùi lấp tang thương. Giờ đây, đến cái bát ăn, cái xô đựng nước, cái chiếu trải lên nền lều cũng là của bà con bản trên giúp đỡ. Mọi thứ đồ đạc khi được tìm thấy thì cũng gẫy vụn, móp mép và hỏng hết. Cái lều này, bà con dựng tạm trên đất trồng ngô lấy chỗ làm ma cho thằng Duy. Nhìn dòng suối tuy đã yên trở lại nhưng vẫn đỏ lựng và trốc trác những vết lở lói, nhiều người vẫn không khỏi sững sờ, bàng hoàng.
Đang trong cơn đau đớn tê dại thì thấy từ chân dốc có ba người đi lên. Dẫn đầu là Phó chủ tịch xã Tùng và hai cán bộ tiểu đoàn công binh đóng trong địa bàn. Sau khi thắp hương cho Duy xong, Tùng và hai đồng chí còn lại cứ đứng mà nói chuyện. Trong lều có gì đâu mà ngồi. Có cái ghế đẩu duy nhất nhặt ở đâu về thì bà Luy lấy cái áo của bà phủ lên rồi để đặt bát hương thờ con trai. Cái bát hương cũng là cái bát ăn cơm mẻ miệng. Tùng bối rối không biết bắt đầu từ đâu. Bà Luy từng là vợ liệt sĩ. Chồng bà hy sinh năm bảy nhăm, ngay trước ngày chiến thắng thống nhất nước nhà. Người con gái chung với người chồng ấy đã có gia đình riêng. Hòa Bình gần mười năm, bà Luy tái giá với thương binh Đoàn Văn Hạnh là người miền xuôi và sinh thêm Duy cùng một đứa con gái nữa. Bà Luy là người Tày trong bản. Bố bà Luy là liệt sĩ chống Pháp. Theo quy định của chế độ ưu đãi, bốn năm trước, gia đình bà Luy đã được hỗ trợ một khoản tiền trị giá sáu mươi triệu đồng để phụ vào khi xây ngôi nhà mới thay cho ngôi nhà sàn đã quá cũ. Nhưng căn nhà mới vừa kịp bén hơi người đã bị lũ cuốn mất...



