Câu chuyện 191
Lịch sử Việt Nam chẳng phải chỉ được tô bằng mực trên giấy. Nó được thấm từ máu, từ nước mắt, và cũng tỏa sáng từ những nụ cười dũng cảm giữa bầu trời bom đạn. Có một thời gian khắc mà chỉ riêng cái tên cũng đủ nói lên tất cả: Thời hoa lửa. Đó là lúc lý tưởng sống của từng con người hòa làm một với vận mệnh đất nước. Thời gian đã lùi xa, nhưng ký ức còn mãi trong những lời kể của nhân chứng. Ở Nghệ An – quê hương của những trái tim son sắt – vẫn còn nhiều cựu chiến binh từng trận mạc, trở thành những chứng nhân đầy tự hào.
Một tấm gương tiêu biểu là cựu chiến binh Trần Văn Phúc (sinh năm 1956, hiện sống tại xã Nghi Phong, Nghệ An). Năm 1974, sau thời gian huấn luyện, ông về Trung đoàn 141, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân khu 5. Hành quân vào huyện Hoài Ân (khi đó thuộc Bình Định, nay là Gia Lai), ông gia nhập Đại đội 15 Công binh, tăng cường cho Tiểu đoàn 8, làm nhiệm vụ phối thuộc để giữ vững các vị trí ta chiếm được. Nơi đây diễn ra những trận đánh kinh hoàng, đơn vị chịu tổn thất nặng nề. Cuối năm 1974, quân địch dồn lực, mở các cuộc hành quân lấn chiếm quy mô lớn, hòng xóa bỏ thế trận "da báo" – thế đan xen giữa hai bên. Đơn vị ông Phúc được giao giữ cụm cao điểm 174 (xã Ân Mỹ, Hoài Ân) – một vị trí sống còn, vì nó án ngữ trên trục đường 5 nối liền với Đông Trường Sơn, huyết mạch duy nhất đưa bộ đội từ miền Bắc vào mặt trận Bình Định.
Quyết chiếm bằng được cao điểm 174, địch huy động hàng chục khẩu pháo và máy bay A37 dội bom liên tục. Ông Phúc và đồng đội bám trụ, tổ chức chống trả từng đợt tiến công. Trận chiến khốc liệt cướp đi sinh mạng nhiều người. Bom địch trúng địa đạo, vùi lấp bảy đồng đội của ông; hai người khác ngã xuống ngay tại cửa hầm. Quá nguy cấp, quân ta buộc phải rút lui tạm thời để củng cố lực lượng, chờ cơ hội phản công. Đến Mùa Xuân năm 1975, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đơn vị ông Trần Văn Phúc được giao giải phóng đảo Long Sơn (Vũng Tàu), mở hành lang phía Đông để tiến vào giải phóng Sài Gòn. Năm 1979, Trung đoàn 141 hành quân ra Lạng Sơn, ông Phúc cùng đồng đội lại chiến đấu chống quân xâm lược Trung Quốc. Hòa bình lập lại, ông cùng những người bạn chiến đấu năm xưa miệt mài tìm kiếm hài cốt đồng đội đã hy sinh, nằm lại nơi cao điểm 174.
Ngắm nhìn lại thời hoa lửa, ta thấy đau thương nhưng cũng thấy ánh hào quang kiêu hãnh. Những câu chuyện của ông không đơn thuần là ký ức riêng tư, mà là những bài học quý giá cho thế hệ hôm nay: lòng yêu nước, ý chí kiên trung, sự hy sinh bất diệt vì Tổ quốc. Nhờ những con người như ông – những người đã đi qua lửa đạn – mà chúng ta mới có hòa bình, mới được sống trong độc lập, tự do hôm nay.



