Câu chuyện 201
Chuyện về "Hang Tám Cô"
Tháng 11/1972, đế quốc Mỹ tăng cường sử dụng máy bay B52 ném bom rải thảm trên tuyến đường 20 với âm mưu ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam.
Giữa mưa bom bão đạn, hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến vẫn kiên cường bám đường với lời thề “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, đảm bảo dòng chảy của hậu phương hướng về tiền tuyến.
Chiều 14/11/1972, Đội Thanh niên xung phong 25 (thuộc Đại đội 217, Đoàn 559) đang làm nhiệm vụ bỗng tiếng còi báo động vang lên. Nhận thấy nguy hiểm, tám thành viên nhanh chóng chạy vào hang đá bên đường trú ẩn.
Loạt bom B52 trút xuống làm khối đá nặng hàng nghìn tấn đổ sập, bịt kín cửa hang, khiến tám người bên trong gồm: Lê Thị Lương, Đỗ Thị Loan, Lê Thị Mai, Trần Thị Tơ, Hoàng Văn Vụ, Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Mậu Kỷ kẹt lại.
Bên ngoài, dù các bộ đội ta đã nỗ lực suốt nhiều ngày nhằm tìm cách phá đá cứu người nhưng mọi phương án đều bất lực. Họ chỉ còn biết luồn ống nhỏ qua kẽ đá để rót nước, nghiền cháo đưa vào, mong đồng đội có thể cầm cự.
Đến ngày thứ chín, tiếng gọi “Mẹ ơi” yếu ớt vọng ra rồi lịm tắt. Tám chiến sĩ thanh niên xung phong mãi mãi nằm lại trong lòng núi đá lạnh lẽo. Sau này, nơi đây được gọi bằng cái tên thân thương “Hang Tám Cô”.
Năm 1996, sau 24 năm kể từ ngày họ hy sinh, tỉnh Quảng Bình quyết định phá tảng đá lớn, đưa tám chiến sĩ về với đất mẹ. Khi cửa hang được mở ra, cả tám bộ hài cốt đều trong tư thế nằm cuộn vào lên nhau, như minh chứng cho tình đồng đội son sắt.



