Bài viết

Câu chuyện 67

“Anh Phạm Ngọc Thảo thủ một vai diễn không có kịch bản, không được phép sai lầm, sơ sẩy... cho tới khi hy sinh. Phải có thần kinh thép mới thực hiện nổi”

An Giang26/06/2026Đoàn xã Hòa Hưng (Đoàn xã Hòa Hưng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lời đúc kết của đồng chí Mười Hương, nguyên Phó ban Địch tình Xứ uỷ Nam Bộ, chính là chiếc chìa khóa mở ra cuộc đời oanh liệt của Đại tá, Anh hùng LLVTND Phạm Ngọc Thảo - người điệp viên đơn tuyến xuất sắc, sẵn sàng chơi “ván bài lật ngửa” ngay trước mắt quân thù.

Sinh năm 1922 trong một gia đình địa chủ có tiếng, ngay từ khi còn nhỏ, Phạm Ngọc Thảo đã sở hữu quốc tịch Pháp và sớm tiếp xúc với văn hoá phương Tây.

Cha ông là nhân sĩ Adrian Phạm Ngọc Thuần. Dù đứng đầu một gia tộc lớn, nhưng di sản quý giá nhất mà cụ truyền cho các con lại chính là tình yêu nước nồng nàn.

Chính vì vậy, trong số 11 anh chị em của gia đình, có đến 6 người tham gia cách mạng. Một trong số đó là anh trai Gaston Phạm Ngọc Thuần, người từng giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Sau khi tốt nghiệp kỹ sư tại Hà Nội, lý tưởng cao đẹp đã thôi thúc chàng trai Phạm Ngọc Thảo hòa mình vào cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.

Đến ngày 23/9/1945, chứng kiến thực dân Pháp nổ súng quay lại xâm lược Nam Bộ, ông dứt khoát từ bỏ quốc tịch nước này, lên đường tham gia kháng chiến, tự nguyện đứng dưới lá cờ cách mạng.

Năm 1947, sau khi trải qua khóa huấn luyện quân sự - chính trị nghiêm ngặt tại Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngọc Thảo trở về miền Nam, đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó hay Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ,...

Cũng từ đây, ông đã có một cuộc gặp gỡ định mệnh, mở ra bước ngoặt mới trong sự nghiệp cách mạng của mình.

Trong một nhiệm vụ đặc biệt, Phạm Ngọc Thảo được giao trọng trách bảo vệ một cán bộ gầy yếu vừa vượt ngục Côn Đảo thành công để trở về chiến trường Nam Bộ.

Suốt một tháng trời băng rừng lội suối, dù phải đối mặt với hệ thống đồn bốt dày đặc của địch, ông vẫn mưu trí bảo vệ an toàn cho người “chú” bí ẩn.

Thậm chí, khi qua các trạm kiểm soát, ông sẵn sàng cõng người trên lưng, vờ như đưa bệnh nhân bị lao đi tìm thầy thuốc.

Nhiệm vụ sau đó thành công tốt đẹp, và người “chú” gầy gò ấy không ai khác chính là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn.

Cảm phục trước thân thế, sự tận tụy và bản lĩnh của Phạm Ngọc Thảo, người đứng đầu Xứ ủy đã giới thiệu ông cho các nhà lãnh đạo tình báo cốt cán thời bấy giờ là Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, một quyết định mang tính chiến lược đã được đưa ra: Bí thư Lê Duẩn trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Ngọc Thảo ở lại miền Nam, thâm nhập sâu vào bộ máy quyền lực cao cấp của chính quyền Sài Gòn.

Đây là một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm bởi ông phải hoạt động hoàn toàn đơn tuyến, không có mạng lưới hỗ trợ trực tiếp, được tùy cơ ứng biến và chỉ phục tùng mệnh lệnh chiến lược tối cao từ Tổng Bí thư.

Sinh thời, nhà tình báo chiến lược lừng danh Phạm Xuân Ẩn từng nhận xét:

“Phạm Ngọc Thảo có nhiệm vụ làm mất ổn định chế độ Ngô Đình Diệm và vạch ra âm mưu đảo chính, còn tôi là một nhà tình báo chiến lược. Nhiệm vụ của ông ấy nguy hiểm hơn nhiệm vụ của tôi rất nhiều”

Phạm Ngọc Thảo đã tận dụng mối quan hệ thân thiết giữa gia đình mình với Giám mục Ngô Đình Thục để tiếp cận anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.

Trước mặt những kẻ đứng đầu chế độ, ông chủ động chơi một “ván bài lật ngửa” khi công khai quá khứ từng theo Việt Minh của mình.

Chính sự tự tin cùng phong thái đĩnh đạc đã giúp Phạm Ngọc Thảo chiếm trọn lòng tin của gia đình họ Ngô. Từ đó, ông thăng tiến nhanh chóng, nắm giữ những vị trí then chốt trong quân đội Sài Gòn.

Trong giai đoạn chính trường miền Nam khủng hoảng trầm trọng từ năm 1963 - 1965, Phạm Ngọc Thảo nổi lên như một “nhà đảo chính chuyên nghiệp”.

Đỉnh điểm, ngày 19/2/1965, ông trực tiếp phát động cuộc binh biến chiếm giữ các cơ quan đầu não tại Sài Gòn nhằm lật đổ tướng Nguyễn Khánh.

Dù cuộc đảo chính không bắt sống được mục tiêu nhưng sự rung chuyển mà Phạm Ngọc Thảo tạo ra đã đẩy nội bộ địch vào cảnh hỗn loạn, góp phần làm chậm mưu đồ đổ quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam.

Tháng 5/1965, kế hoạch tổ chức cuộc binh biến tiếp theo nhằm lật ngược thế cờ của ông bị bại lộ. Nguyễn Văn Thiệu kết án tử hình vắng mặt Phạm Ngọc Thảo, đồng thời treo thưởng số tiền khổng lồ 3 triệu đồng (~ 344 cây vàng) cho ai tìm thấy tung tích ông.

Dù tổ chức nhận thấy nguy hiểm và ngỏ ý muốn đưa Phạm Ngọc Thảo về chiến khu an toàn, vị đại tá tình báo vẫn kiên quyết bám trụ trận địa.

Giữa tháng 7/1965, ông bị phục kích tại Biên Hòa, anh dũng hy sinh ở tuổi 43.

Cho đến lúc bị thủ tiêu, Phạm Ngọc Thảo chưa từng lộ danh tính tình báo, khiến giới sĩ quan thân Mỹ lẫn giáo hội vẫn xem ông là một trí thức quốc gia.

Vì sợ một người dẫu không có quân đội hay quyền lực trong tay, vẫn có khả năng tự mình châm ngòi đảo chính, xoay chuyển cả chế độ, chúng đã tìm mọi cách bắt giữ và thủ tiêu ông trong vội vã.

Vì tính chất bảo mật tuyệt đối của nhiệm vụ đơn tuyến, ngay cả người thân, vợ con ông cũng không hề biết đến thân phận thực sự của chồng, của cha mình.

Suốt nhiều năm sau đó, gia đình ông phải sống trong sự chật vật, chịu đựng sự ghẻ lạnh và nghi kị từ cả hai phía.

Thậm chí, nấm mồ của Phạm Ngọc Thảo tại Nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũng chỉ ghi vỏn vẹn dòng chữ "Vô danh DB" (Vô danh đặc biệt).

Hòa bình lập lại, bộ phim tình báo kinh điển “Ván bài lật ngửa” được công chiếu, công chúng mới bàng hoàng và xúc động nhận ra hình bóng của người anh hùng Phạm Ngọc Thảo ẩn sau nhân vật Nguyễn Thành Luân.

Ngày 30/8/1995, liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Tấm ảnh trên bia mộ ông hôm nay dẫu mang quân phục chế độ cũ, nhưng dưới đó là tên tuổi của một Đại tá QĐND Việt Nam vĩ đại - người đã sống, chiến đấu và hy sinh thầm lặng cho ngày đất nước trọn niềm vui.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn