Câu chuyện: Anh hùng LLVTND Lưu Văn Khi – “Người giữ chốt Cao Mật”
Cao Mật (nay thuộc huyện Phú Lương, Thái Nguyên) từng là một trong những điểm cao chiến lược quan trọng nhất trong kháng chiến chống Pháp. Từ đây có thể kiểm soát đường hành lang nối giữa Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn. Quân Pháp đã nhiều lần mở các cuộc càn quét để giành lại khu vực này. Giữ được Cao Mật là giữ được cửa ngõ của chiến khu Việt Bắc.
Và người giữ chốt hàng đầu tại đây – người mà bộ đội gọi là “hòn đá tảng của phòng tuyến” – chính là Lưu Văn Khi, người con xã Yên Trạch, sau được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tuổi thơ lam lũ và tố chất gan góc từ nhỏ
Lưu Văn Khi sinh năm 1929 trong một gia đình nghèo làm nương rẫy. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng nhanh nhẹn, gan dạ. Mới 10 tuổi, Khi đã biết trèo núi hái thuốc, lội suối bắt cá. Có lần bị thú rừng rượt, cậu bé chỉ cầm con dao quắm nhỏ mà vẫn bình tĩnh chạy lắt léo qua rừng sim để thoát.
Cha ông bị giặc bắt đi phu, mẹ ốm nặng mất, gia đình tan tác. Năm 16 tuổi, Khi xin theo đội du kích. Lúc nhập ngũ, chỉ huy hỏi:
– Em có sợ chết không?
Khi trả lời ngay:
– Người chết thì cũng nằm xuống một lần. Nhưng nếu sợ, bản làng mình sẽ chết mãi.
Câu nói đó khiến mọi người nhớ mãi.
Người lính trinh sát – mưu trí, liều lĩnh nhưng cực kỳ cẩn trọng
Khi được đưa lên giữ chốt Cao Mật từ đầu năm 1951. Công việc chính của ông là:
theo dõi quân địch từ hướng Việt Trì – Đại Từ
dẫn đường cho các tổ phục kích
xây dựng trận địa bí mật trên sườn núi
giữ vững chốt trong mọi tình huống
Ông nổi tiếng với biệt tài “nghe tiếng súng đo hướng đi”, chỉ cần nghe một tràng súng nổ xa hay gần, ông có thể đoán được vị trí, quân số và hướng di chuyển. Nhiều trận đánh thắng lợi chính nhờ khả năng này.
Các chiến sĩ thường nói:
“Anh Khi không chỉ nhìn thấy địch bằng mắt, mà bằng cả tai và linh cảm của người sống giữa núi rừng.”
Trận chiến không lùi bước – “giữ chốt đến hơi thở cuối cùng”
Ngày 14 tháng 6 năm 1952, quân Pháp mở cuộc càn lớn vào chốt Cao Mật với hơn 200 quân, có cả súng cối và đại liên. Mục tiêu của chúng là chiếm điểm cao để đánh vào tuyến vận chuyển vũ khí của ta.
Lúc đó, ngôi chốt chỉ có 19 chiến sĩ, trong đó Lưu Văn Khi làm tổ trưởng. Đạn dược ít, hầm hào còn thô sơ.
Khi nhìn xuống chân núi thấy quân địch đông như đàn kiến, một chiến sĩ trẻ lo lắng nói:
– Anh Khi, đông thế này… liệu chúng ta có giữ được không?
Khi đặt tay lên vai đồng đội:
– Ở đây còn các cậu thì tôi còn đứng. Còn tôi đứng thì chốt còn.
Đợt tấn công thứ nhất
Địch bắn pháo dữ dội. Đất đá rơi như mưa. Khi chỉ huy cho anh em nín đạn, chờ địch lên gần mới bắn. Khi chúng cách hào 70 mét, ông ra lệnh mở hỏa. Loạt đạn đầu tiên của Khi bắn trúng tên chỉ huy khiến đội hình địch rối loạn.
Đợt tấn công thứ hai
Địch chia hai mũi leo lên. Khi bắn đến viên đạn cuối cùng của khẩu súng trường rồi đổi sang lựu đạn tự tạo. Một quả nổ ngay sát mũi tấn công khiến chúng phải lùi lại.
Đợt tấn công thứ ba – lúc sinh tử
Địch gọi pháo đánh thẳng vào lô cốt. Một mảnh pháo găm vào bụng Khi, máu chảy đầm áo. Đồng đội định cáng anh xuống nhưng ông gạt đi:
– Tôi còn sống là chốt còn. Cứ để tôi bắn.
Ông bò lên mép hào, tựa người vào tảng đá để giữ thăng bằng. Gương mặt tái nhợt, nhưng mắt vẫn sáng. Khi thấy địch chuẩn bị lên đợt cuối, ông gom toàn bộ lựu đạn còn lại, ném liên tiếp xuống sườn đồi.
Tiếng nổ vang lên dữ dội. Địch bị thương nhiều, phải rút lui về tuyến dưới.
Chiến thắng giữ chốt
Cuộc chiến kéo dài hơn 4 tiếng. Khi cứu viện lên, họ thấy Lưu Văn Khi nằm dựa vào tảng đá, tay vẫn nắm khẩu súng, mắt khép lại. Nhưng ông vẫn còn thở. Đồng đội đã cõng ông xuống núi, cứu sống ông sau nhiều ngày điều trị.
Nhờ trận giữ chốt ấy:
Tuyến vận chuyển của ta được bảo toàn
Các đơn vị chủ lực an toàn vượt qua cửa ngõ Cao Mật
Quân Pháp thất bại trong kế hoạch chiếm điểm cao chiến lược
Cuộc đời cống hiến bền bỉ
Sau đó, Lưu Văn Khi tiếp tục tham gia hàng chục trận đánh. Dù trên người có nhiều vết thương, ông vẫn luôn nói:
“Đánh giặc là đánh cho bản làng mình. Đau mấy cũng đánh.”
Ông lập nhiều chiến công nổi bật:
3 lần chỉ huy tổ chốt giữ điểm cao với quân số gấp 10 lần địch
trực tiếp tiêu diệt hơn 40 tên địch
tham gia 12 trận phục kích ở Đại Từ, Phú Lương
dẫn đường bí mật cho nhiều đoàn công tác vào ATK
Danh hiệu Anh hùng
Năm 1955, Nhà nước phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Những người dân Yên Trạch vẫn kể:
“Nhờ có anh Khi, Cao Mật mới đứng vững, chiến khu mới yên.”



