Câu chuyện bác tôi
Bác từng là sĩ quan, năm 1972 được giao nhiệm vụ đưa tân binh từ Sơn Tây vào chiến trường Quảng Trị.
Bác tôi là một người lính già đã nghỉ hưu, sống lặng lẽ, ít nói về quá khứ. Suốt mười năm cuối đời của ông ngoại, bác một mình chăm sóc, tắm rửa cho ông. Dù từng có ngực đầy huân chương và là dũng sĩ trong chiến tranh, bác chưa bao giờ kể lại chiến công của mình cho con cháu. Chỉ thỉnh thoảng, những chiều tôi về thăm quê, hai bác cháu ngồi bên sông La ngắm dãy Trường Sơn, bác mới kể cho tôi nghe vài mẩu chuyện rời rạc, như những mạch nước ngầm ẩn sâu trong ký ức. Bác từng là sĩ quan, năm 1972 được giao nhiệm vụ đưa tân binh từ Sơn Tây vào chiến trường Quảng Trị. Lứa tân binh năm ấy phần lớn là sinh viên, trí thức trẻ được động viên gấp khi cuộc chiến trở nên ác liệt. Vì thời gian huấn luyện ngắn, nhiều người chưa quen hành quân đường dài, mang vác nặng tới 40–50kg, chân phồng rộp, kiệt sức nhưng vẫn phải tiếp tục. Các cán bộ khung như bác vừa chỉ huy, vừa dạy họ kỹ năng sống sót, tháo lắp súng, nhận biết tiếng bom đạn — những điều tưởng nhỏ nhưng quyết định sinh mạng nơi chiến trường. Có lần, bác bắt gặp một tân binh đang bị cáng vẫn ôm chặt chiếc ba lô đầy sách, trong đó có cuốn từ điển Nga – Việt và thơ Puskin. Khi bác vứt những quyển sách đó đi, người lính đã giận dữ gọi bác là “đồ vô văn hoá”. Chỉ đến khi bác nói trôi chảy tiếng Nga và buộc anh đọc thử mười từ, người lính mới hiểu ra: người “ít học” kia từng là giảng viên đại học ở Nga. Bác tôi nói: “Trên chiến trường, điều cần học là cách sống sót, không phải là từ điển.” Một tân binh khác, người Hà Nội to khỏe và ngang tàng, bị bác quật roi khi không chịu nằm thấp người tập ném lựu đạn. Sau này, khi chiến đấu ở thành cổ, anh đã anh dũng hy sinh, giữ vững trận địa cho đồng đội. Bác kể, chiến tranh khốc liệt nhưng cũng đầy nhân tính – như đêm ở Quảng Bình, bác thấy một đôi trai gái ôm nhau ngủ giữa nhà dân. Khi bác thắc mắc, chủ nhà chỉ nói: “Chúng nó yêu nhau thì kệ chúng nó, sống chết từng giờ mà.”
/-strong/-heart:>:o:-((:-h



