Câu chuyện cảm động về liệt sĩ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Năm 1936, phong trào thanh niên phản đế lên cao ở vùng Cao - Bắc - Lạng, anh thanh niên Hoàng Văn Nhủng 26 tuổi thoát ly gia đình đi cách mạng, trở thành liên lạc viên với bí danh Xuân Trường.
Khoảng năm 1939, cả hai anh em bị mật thám bắt, tra tấn dã man, nhưng hai người nhất định không khai. Cuối cùng chúng phải thả hai anh em ra.
Giữa năm 1940, Xuân Trường được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc và trở về 4 năm sau. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, Xuân Trường cùng 33 đội viên khác tuyên thệ dưới cờ trong lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam.
Sau những chiến thắng mở màn ở Phay Khắt và Nà Ngần (Nguyên Bình), đơn vị trở về Lũng Dẻ củng cố lực lượng trước khi nhận nhiệm vụ tiến công đồn Đồng Mu. Vượt quãng đường hành quân hàng trăm kilômét qua núi rừng hiểm trở, nơi luôn rình rập thú dữ và thổ phỉ, Xuân Trường cùng đồng đội áp sát cứ điểm của địch, chuẩn bị bước vào trận đánh ác liệt khiến anh mãi mãi phải nằm lại ở mảnh đất này.
Phút hy sinh anh dũng
Đêm 4/2/1945, theo kế hoạch, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiến đánh đồn Đồng Mu, một đồn nằm trên đồi cao, giữa cánh đồng thôn Nà Đoỏng, xã Ân Quang, châu Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, là một vị trí hết sức quan trọng đối với địch. Trấn giữ được Đồng Mu, người Pháp kiểm soát toàn vùng Bảo Lạc, Thông Nông, cắt đứt liên lạc sang "thủ phủ cách mạng" Sóc Hà của Hà Quảng, đường xuống Pác Lung đi Ba Bể của Bắc Cạn. Đối với ta, diệt được đồn, Giải phóng quân gây được thanh thế, đánh lạc hướng, khiến Pháp nhầm tưởng Đội hoạt động ở cả phía nam Nguyên Bình lẫn biên giới Việt-Trung.
Thực dân Pháp xây đồn Đồng Mu với công sự kiên cố, tường dày có lỗ châu mai, giao thông hào, dây thép gai bao bọc. Ta xác định Đồng Mu "rắn" hơn Phai Khắt, Nà Ngần cả về công sự lẫn hỏa lực nên không thể cải trang đột nhập như những trận trước, Đội quyết định hành động trong đêm theo phương án mới.
Tiểu đội trưởng Xuân Trường được phân công dẫn đầu một tổ; các mũi đột nhập chiếm vị trí chỉ huy, rồi cùng nội ứng tiêu diệt lính trong đồn.
Gần 23 giờ, hai tổ xung phong vượt qua hàng rào thép gai, đến sân đồn trước cửa trại lính. Một tổ đang đột nhập thì bị phát hiện. Lính khố xanh lập tức ném lựu đạn và bắn ra. Xuân Trường dẫn một tốp trèo qua cửa sổ, diệt 2 lính gác. Khẩu tiểu liên hết đạn, anh chuyển sang dùng kiếm ngắn tiếp cận vị trí chỉ huy. Quân lính lui vào trong cố thủ. Nhưng ngay lúc đó, một viên đạn bay xuyên qua ngực, Xuân Trường gục xuống. Đồn đội chạy tới đỡ Xuân Trường lên, nhưng anh gạt tay và giục: "Đánh đi, không lôi thôi gì với mình cả. Xung phong lên". Chỉ nói được vậy, Xuân Trường trút hơi thở cuối cùng. Những người còn lại vẫn tiếp tục xông lên.
Trận đánh đồn Đồng Mu kéo dài 3 tiếng, từ đêm mùng 4 đến rạng sáng ngày 5/2. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân diệt 20 lính, bắt 3 tù binh, thu 5 súng trường Mousqueton. Phía Quân giải phóng, tiểu đội trưởng Xuân Trường hy sinh.
Theo TS Nguyễn Thành Hữu, Trận đánh không diễn ra như "kế hoạch đã định". Trong hồi ký Những chặng đường lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết, khi khai thác tù binh sau này mới biết, buổi trưa hôm tập kích, đồn trưởng người Pháp bắt được lá thư của thổ phỉ biên giới dọa tối ấy sẽ kéo đến hạ đồn. Vì vậy, quân Pháp báo động cho binh lính đối phó; thức đề phòng, không cho bất kỳ ai ra vào. Nội ứng không thể báo tin ra ngoài.
Đồng đội chôn cất liệt sĩ cở cánh đồng dưới chân đồn Đồng Mu. Sau này, hài cốt được đưa về nghĩa trang huyện Bảo Lạc, rồi một lần nữa chuyển về quê nhà xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng.
Ông hy sinh lúc 35 tuổi, chưa có gia đình và cũng không hề để lại một bức di ảnh trên đời. Ngày 19/8/1961, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 337/TTg cấp Bằng "Tổ quốc ghi công" cho Hoàng Văn Nhủng, công nhận ông là liệt sĩ và là liệt sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.



