Cựu chiến binh

CÂU CHUYỆN CCB THÀNH CỔ

Phải mất bao nhiêu năm, bao nhiêu đời người, để những kí ức về một thời chiến tranh thôi quặn lên mỗi khi nhắc lại ? Hay có những câu chuyện, một khi đã khắc vào máu, ghi vào xương, thì dẫu con người ta có già thêm mấy chục tuổi cũng không tài nào quên được ?

Quảng Trị05/12/2025CHI ĐOÀN 10A8 - TRƯỜNG THPT GIO LINH (ĐOÀN XÃ GIO LINH)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN CCB THÀNH CỔ

Hôm nay, một ngày bình thường của tháng 12, hai ông cháu tôi lại có dịp ngồi lại với nhau dưới hiên nhà đầy nắng. Gió cuối năm se sắt thổi qua, còn ông thì chậm rãi rót một chén trà, ánh mắt xa xăm như đang hướng về một nơi nào đó của bốn, năm chục năm trước. Tôi khẽ khàng hỏi ông về những kí ức của một thời xưa cũ – những kí ức đã theo ông dài hơn những năm tháng tuổi trẻ, lặp đi lặp lại trong giấc mơ của ông suốt ngần ấy năm. Ông nội tôi, nay đã 72 tuổi, mái tóc đã bạc trắng như sương, đôi mắt dường như đã không còn nhìn rõ, nhưng mỗi lần nhắc đến chiến tranh, giọng ông vẫn trầm lại, chắc nịch, như thể lửa đạn vẫn đang cháy đâu đó trong lòng ông. Có những đêm, ông tỉnh dậy giữa bóng tối mà vẫn nghe thấy tiếng bom nổ dội vào lòng đất. Có những buổi ngồi một mình, ông bất giác siết chặt tay trong vô thức như đang nắm lại khẩu súng năm nào. Và có những gương mặt của những đứa bạn đã nằm lại dưới lòng Thành Cổ - vẫn lặng lẽ trở về trong giấc ngủ, từng khuôn mặt. từng nụ cười, từng tiếng gọi như chưa hề rời xa.

Người ta vẫn hay nói rằng : ‘Chiến tranh đã qua rồi’’, nhưng tôi hiểu, với ông chiến tranh không đi đâu cả, nó chỉ âm thầm nằm đó, trong một góc trái tim, như ngọn lửa âm ỉ cháy.

Ông mấp máy môi, hơi do dự một lúc, rồi cũng bắt đầu kể cho tôi nghe :

Hôm nay, con hỏi ông về Thành Cổ Quảng Trị, về một thời ‘hoa lửa” mà sách vở chỉ ghi vài dòng, phim ảnh chỉ tái hiện được một phần. Ông không biết mình có đủ lời để kể ra hết hay không…Vì có những điều đau quá, sâu quá, chỉ có người đứng giữa tâm bom như ông mới hiểu nổi.

Nhưng ông vẫn sẽ kể.

Bằng trí nhớ của một người sống sót, bằng trái tim của một người đã từng chôn đồng đội bằng chính đôi tay run rẩy của mình, bằng linh hồn của một thằng lính trẻ năm đó, mang theo tất cả yêu thương, căm thù, tự hào, và mất mát.

Con à, nếu muốn biết, muốn hiểu chiến tranh khốc liệt tới mức nào, đau thương, mất mát ra sao thì phải đứng ở Thành Cổ năm 1972, nơi mà người ta gọi bằng cái tên rung mình và ám ảnh : ‘‘ Cối xay thịt của tuổi hai mươi ’’

Ông, năm ấy mới chưa tròn đôi mươi, cũng chỉ là chàng trai vừa lớn, cái tuổi mà lẽ ra chỉ biết đến tiếng cười, đến mồ hôi của những buổi chạy nhảy trên dồng, đến những ước mơ, hoài bão còn dang dở nằm trong đáy túi áo. Ông bước vào chiến tranh khi tim còn non, khi bàn tay còn lúng túng cầm sung như cầm một thứ gì quá lớn đối với mình. Thế đấy, thế mà là du kích địa phương, tay sung còn thô, lòng thì còn trẻ, nhưng cái ý chí thì như sắt đá. Con biết không, bởi lúc ấy, dân mình chỉ có một lựa chọn hoặc là đứng lên, hoặc là cúi đầu mất nước.

Phim ‘ Mưa đỏ ’ con xem đó – cảnh pháo sáng, cảnh lính ta bơi qua sông Thạch Hãn, cảnh Thành Cổ là một đống đổ nát, chỉ mới là một phần nhỏ của hiện thực tàn khốc. Sự thật, từng tiếng pháo 130 ly đổ xuống là cả mặt đất bật tung lên như sóng, từng loạt B52 dập xuống khiến thành rung chuyển như muốn lật nhào cả trời. Đất Thành Cổ lúc đó không còn là màu nâu nữa. Đất đỏ như máu, máu chảy thành dòng, ở đâu cũng là những mảnh thịt người, rải rác đến ám ảnh, đau lắm, căm thù lắm, nhưng biết làm gì đây. Có những buổi sáng, ông cùng đơn vị đào chiến hào lại, đang đào thì lưỡi cuốc chạm phải thứ gì đó mềm mềm…hóa ra là một phần xác người. Chẳng ai dám nhìn kỹ, chỉ nhẹ nhàng đào lên và đặt sang chỗ khác. Không phải vì vô lễ, không biết tiếc thương đâu con à, mà vì ông và những người khác sợ sẽ khóc, nếu khóc thì không còn sức mà chiến đấu nữa.

Còn dòng sông Thạch Hãn khi ấy…con biết người ta gọi là gì không ?

‘‘ Ranh giới giữa sống và chết ’’

Một nửa bộ đội nếu may mắn vượt qua được thì sẽ sống. Nửa kia không may thì chìm xuống hẳn dưới dòng nước lạnh, không bao giờ nổi lên nữa. Những chiến sĩ trẻ từ miền Bắc vào, ba lô nặng, súng nặng, trời thì sáng rực pháo sáng, còn bên bờ kia là lưới đạn. Có đồng chí bị trúng đạn ngay khi vừa đặt chân xuống nước, có người bơi được tới giữa dòng thì mất sức, chìm đi trong im lặng…chỉ còn thấy cái mũ cối xoay xoay rồi biến mất. Đêm nào nước sông cũng một màu đỏ rực, không phải vì ánh pháo đỏ rọi xuống, mà vì đã có quá nhiều máu chảy ra, hòa làm một với nước sông. Cứ mỗi lần ông nhìn dòng sông ấy, bây giờ - hiền hòa, trong xanh đến lạ, ông trong vô thức thấy trong đó có bóng dáng của biết bao nhiêu thằng đồng đội…những đứa tuổi còn chưa biết yêu ai.

Từ xa, Thành Cổ chỉ là tường gạch, vài mét vuông đất, nhưng với ông và đồng đội, đó là lời thề danh dự với quê hương, với nhân dân, với từng tấc đất của tổ quốc.

Chỉ cần còn một người đứng, một người còn, Thành Cổ chắc chắn sẽ còn.

Có lần, ông đã suýt chết, một trận bom đột ngột dội xuống khiến ông bị lấp gần nữa người trong đất. Khi được đồng đội đào lên, miệng ông đầy cát và máu. Chỉ mới vừa thở được đã nghe chỉ huy hét : ‘ Dù có chết, cũng phải dốc toàn lực bảo vệ Thành Cổ, tuyệt đối không được lùi nửa bước, tất cả tiến lên !’’

Có thằng bạn chiến đấu với ông - thằng Tám, nó bị trúng một mảnh pháo vào bụng, ruột gan như rớt hết ra, lúc ông chạy lại với nó, nó đã thoi thóp, miệng phun đầy máu tươi. Nó lấy hết cuộc đời của nó mà nắm tay ông, tay nó lạnh toát, gắng gượng đến cùng mà nói với ông : ‘ Cao ơi…nhờ mi nhắn dùm với mẹ tau…tau không chạy mô… tau giữ thành tới cùng, tau thương mẹ ’’. Nói xong là nó chết, chết mà mắt còn mở, vì chưa muốn đi, còn đau đáu về cuộc sống, về mẹ, ông vuốt mãi mà nó không nhắm mắt. Nhiều người chết không còn nguyên vẹn, nhiều người tan vào đất, hóa thành hồn cốt dân tộc, nhiều người đến giờ không ai biết xương nằm ở đâu.

Ông không dạy con thù bất cứ ai, ông chỉ muốn con hiểu rằng : ‘ Chiến tranh là thứ tàn ác đến mức xé nát mọi thứ tốt đẹp nhất ’’. Nó cướp đi những thằng lính chưa kịp trưởng thành, nó chia cắt bao nhiêu gia đình, mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, nó khiến con người ta trở thành tro bụi chỉ trong một tiếng nổ. Ông từng chứng kiến cảnh một chiến sĩ bị bắn ngay ngực, trước lúc chết vẫn mò mẩm lá thư của mẹ trong túi áo, lá thư dính đầy máu, loang ra từng chữ. Mẹ nó dặn : ‘ Ráng giữ sức khỏe, sớm về với mẹ, con nhé !’’. Đến mãi sau này, người mẹ đó mới biết, con trai mình đã nằm lại ngay dưới bức tường thành ấy. Lúc đó, ông thấy lòng ngực mình đau âm ỉ - một ngọn lửa thù chiến tranh bùng lên, không phải thù những người đang bắn vào ông vì họ cũng chỉ là những người lính, cũng là nạn nhân trong câu chuyện của thời đại, mà thù thứ đã biến thanh xuân của cả một thế hệ hóa tro tàn.

Trong khói lửa ấy, điều giữ ông sống sót là tình người, là ánh mắt của đồng đội khi chia nhau từng ngụm nước, vắt cơm, là cái nắm vai thật mạnh khi có người gục xuống, là nụ cười và hy vọng về một ngày không còn chiến tranh, là tiếng những người lính gọi nhau, dặn nhau giữ vững trận địa.

Có hôm trời mưa lớn, đất nhão, máu tan vào nước. Ông nhớ đã ôm thân thể lạnh toát của đồng đội, kéo vào hố, tay run lẩy bẩy : ‘ Tau hứa…tau sống về, tau kể lại cho thế hệ sau biết ’’. Con biết không, một người lính trong chiến trận có thể chết đến hai lần, một lần khi trái tim ngừng đập hẳn , và một lần nữa khi người ta không còn nhớ đến họ. Những đồng đội của ông…nhiều người chết lần thứ nhất ở lòng Thành Cổ, nhưng điều ông sợ nhất, đau nhất..là họ sẽ chết lần thứ hai trong sự lãng quên của thế hệ sau. Hôm nay, ông đang thực hiện lời hứa của người sống sót là kể cho con – cho cháu của ông biết được rằng cái hòa bình mà con đang có nó được trả bằng những người không bao giờ trở về.

Con à…

Nhiều người nói thời gian sẽ xóa nhòa đi tất cả, làm con người ta quên đi.

Nhưng chiến tranh thì không.

Nó ở trong tiếng thở dài của những người sống sót. Nó ở trong mắt những cựu binh mỗi khi nhìn về phía Thành Cổ. Nó ở trong lòng ông, mỗi lần nhắc lại là như bị khoét thêm một nhát.

Đau lắm.

Dai dẳng lắm.

Không bao giờ lành.

Nhưng nỗi đau ấy cũng là niềm tự hào. Tự hào vì ông đã đứng đó. Tự hào vì thế hệ ông không lùi bước. Tự hào vì đất nước này - đã đứng dậy từ mất mát và đau thương, từ những ngày đất trời nghiêng ngả, quê hương ngập trong bom đạn .

Con hãy nhớ điều này: Hòa bình hôm nay là máu của quá khứ. Tự do hôm nay là xương của tuổi hai mươi. Và Thành Cổ Quảng Trị - sẽ mãi mãi là bản anh hùng ca viết bằng sinh mệnh con người.

Giờ đây, khi chiến tranh đã lùi xa, ông tôi vẫn ngồi đó, bên hiên nhà đầy nắng, lặng lẽ châm điếu thuốc rồi thở dài như trút xuống cả một thời dằng dặc máu lửa. Những vết thương trên vai ông đã khép miệng, nhưng những vết thương trong tim thì chưa bao giờ thật sự lành. Ông chẳng còn thuộc về những ồn ào của cuộc sống hôm nay - ông thuộc về quá khứ, thuộc về những tháng năm rực lửa, thuộc về đồng đội đã nằm lại, thuộc về tiếng súng, tiếng bom đã vĩnh viễn in hằn vào ký ức. Trên ngực ông, nhiều huân chương lấp lánh, là minh chứng cho tuổi trẻ đã gửi lại cho Tổ quốc, cho lòng dũng cảm và sự hy sinh không thể nào quên. Mỗi lần nhắm mắt, ông lại thấy Thành Cổ, thấy sông Thạch Hãn đỏ quạch, thấy những người bạn chưa bao giờ trở về… Và mỗi khi tôi nhìn vào ánh mắt ông, tôi hiểu rằng: hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng tuổi trẻ, bằng máu, bằng nước mắt của biết bao người như ông. Ông mang theo niềm tự hào, niềm căm thù và nỗi đau - vừa muốn quên, vừa không thể quên - và chính nỗi đau ấy đã làm nên con người ông, làm nên trái tim một thế hệ không lùi bước trước bão lửa của lịch sử. Những huân chương trên ngực ông không chỉ là phần thưởng, mà còn là lời nhắc nhở sống động cho thế hệ hôm nay: phải biết trân trọng hòa bình, biết ghi nhớ quá khứ và biết giữ gìn tự do mà cha ông đã đánh đổi bằng cả tuổi trẻ và máu xương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÂU CHUYỆN CCB THÀNH CỔ | Câu chuyện thời hoa lửa