CÂU CHUYỆN CHIẾN TRANH CỦA NGƯỜI LÍNH GIÀ 2
Bác tôi kể, các cán bộ khung hầu hết là cán bộ chiến đấu lâu năm. Hầu hết trong số họ đều xuất thân từ nông thôn, đã đánh nhiều trận, đã chôn nhiều bè bạn, nên mỗi người trong họ là một kho kinh nghiệm chiến đấu. Điểm yếu của họ là họ không có trình độ văn hoá bằng những người lính mà họ huấn luyện. Những người lính sinh viên, được học hành tử tế, có lý luận và thường xuyên vặn vẹo mọi lời của những người lính cựu. Mâu thuẫn nhiều khi không được giải toả và chỉ có thể được dập tắt bằng kỷ luật quân đội.
Có một lần, dưới một chân dốc ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, bác tôi nhìn thấy hai người lính trẻ măng chệnh choạng, mặt mờ đi, mặt xám ngoét cáng một người lính với nước da xanh mướt. Người lính nằm trên cáng mặt trắng bệch vì sốt nhưng vẫn ôm khư khư chiếc ba-lô to tướng. Bác tôi dừng cáng lại và lục tung ba lô của họ vứt lại những thứ không cần thiết. Khi lục đến ba lô của người lính được cáng, bác tôi thấy một mớ từ điển Nga-Việt phổ thông, thơ Puskin và các sách văn học khác. Bác vứt không thương tiếc những cuốn sách đó bên vệ đường mòn. Người lính đang nằm, mặt trắng bệch, rít lên qua kẽ răng “không được vứt sách của tôi, đó là từ điển Nga – Việt, tôi là sinh viên hiểu chưa?” Bác tôi nhìn người lính và trả lời “thì sao, bạn anh không cáng được những thứ này vào tới chiến trường, hiểu chưa?”. Người bệnh binh ứa nước mắt, quay mặt về phía khác và nói đủ để bác tôi nghe rõ “đồ… đồ ít học… đồ… đồ vô văn hoá!” Bác tôi sững lại nhìn người lính, rồi đưa cho anh cuốn từ điển Nga Việt. Bác nói một câu bằng tiếng Nga. Người lính ớ ra, nhìn bác không hiểu. Bác tôi nói lại bằng tiếng Việt “mở từ điển ra, đọc cho tao mười từ bất kỳ bằng tiếng Việt! Đọc đi!” Người lính đọc mười từ, và bác tôi đọc mười từ tiếng Nga tương ứng. Đọc xong, bác tôi cầm cuốn từ điển quăng mạnh ra xa và nói “Nếu muốn tra từ tiếng Nga thì mày có thể hỏi tao. Còn từ giờ đến khi vào tới chiến trường thì cố mà học được cách để chiến đấu!” Những người lính sinh viên nhiều khi có ác cảm với các cán bộ nói giọng miền Trung như bác tôi vì cho rằng họ ít học và giáo điều. Các tân binh không biết rằng bác tôi từng học ở Nga và là giảng viên đại học bách khoa trước khi nhập ngũ. Bác tôi nói, những người lính cựu có trong người phản xạ sinh tồn, đôi khi chỉ cần nghe tiếng nổ đầu nòng của M79 là họ đã lăn tròn khỏi chỗ đang đứng cả mét. Những người lính mới không có phản xạ đó, và nhiều khi vì không nghe những người lính nông dân quê kệch, những tân binh phải trả giá bằng máu cho mỗi bài học.
Bác tôi kể rằng nhiều người lính đã coi thường việc học tháo lắp và lau súng. Họ đôi khi cho rằng việc nhắm mắt tháo lắp súng chỉ là một mánh khoé mà đám cán bộ cựu binh thiếu lý luận đem ra loè họ. Chỉ sau này, khi được lôi lên sau mỗi trận bom vùi trong thành cổ và đối phó với những trận xung phong của bộ binh sau đó, họ mới hiểu mỗi một giây trong việc tháo, lau và lắp khẩu AK từ bộ phận của các khẩu súng bị vùi lấp và gãy nát quyết định sinh mạng của họ.
Đâu đó trên đất Hà Tĩnh, bác tôi phải xử lý một trường hợp khác. Anh lính này người Hà Nội, to cao, dân ngoài đê sông Hồng nên tính ngang tàng. Mỗi khi tập ném lựu đạn, anh không nằm ép sát xuống mép công sự mà thường nhô cả người lên ném. Anh ném xa nhất đơn vị. Mỗi khi bị cán bộ nhắc nhở, anh chỉ cười khinh khỉnh và vẫn làm như cũ. Bác tôi nghe vậy liền cầm một cái roi tre cật ngồi ngay bên mép công sự và hô “ném”. Anh tân binh lại hùng hổ nhô cả người lên ném và “vút” bác tôi quật thẳng vào mặt anh. Người lính mắt long sòng sọc nhìn bác tôi. “AR-15 bắn cực nhanh, nếu đây là chiến trường thì cả mặt anh đã nát rồi!” bác tôi nói. Người lính không lặp lại chuyện đó nữa. Sau này khi đã vào thành cổ, khi chốt của người lính đó hy sinh hết, còn lại một mình, nghe tiếng thuỷ quân lục chiến đang lội qua hào ngoài bờ thành, lựu đạn hết, người lính đó đã nhô mình ra khỏi tường thành để bắn nguyên cả một băng trung liên xuống hào. Đạn từ dưới bắn lên, anh gục trên bờ thành nhưng chốt không mất. Khi đơn vị bác tôi tới, lôi anh xuống hầm, cả ngực anh bị băm nát nhưng đôi mắt vẫn long lên trong cơn hấp hối.
Khi ở Quảng Bình trước khi vượt giới tuyến, đơn vị bác tôi trú trong nhà dân. Vừa được nghỉ là bộ đội nằm vật ra khắp nhà ngủ như chết. Bác tôi đi tuần một vòng rồi về căn nhà mình trú tạm. Bộ đội nằm la liệt dưới sàn, ngáy như sấm. Trên chiếc bàn uống nước, một đôi trai gái đang quấn riết lấy nhau rất tự nhiên, quần áo, súng trường K44 của dân quân đặt trên chiếc ghế cạnh bàn. Bác tôi quay ra ngồi ngoài đầu hè, bật radio khe khẽ. Bọ già chủ nhà ra ngồi nghe ké. Bác tôi hỏi “con gái bọ lấy chồng rồi không ở riêng sao?” Bọ trả lời “đâu, nó còn con gái”. Bác tôi chỉ vào phía trong nhà “lính của tôi đang ở trong đó với con gái bọ?” Bọ trả lời “không, thằng người yêu nó!” Bác tôi ngạc nhiên “bọ sao dễ tính vậy?” Bọ bình thản “ở đây sống chết từng giờ, chúng nó yêu nhau thì kệ chúng nó, tính chi chuyện đó!” Bác tôi thở dài và nhìn lên bầu trời đầy sao. Năm đó, bác tôi 35 tuổi. 35 tuổi nhưng những người lính 17-18 đã gọi bác tôi là “bố”. Khi vào đến sông Thạch Hãn, đơn vị bác tôi mất 20% quân số. Vượt sông vào thành cổ, chỉ sau một tuần, quân số chỉ còn lại cũng chừng đó. Theo số liệu chính thức của quân đội sau này, mỗi ngày đêm, quân ta mất một đại đội trong thành cổ.
Bác tôi kể, cuộc chiến trong thành cổ cũng có những quy luật của nó. Cuộc sống của thành cổ phụ thuộc toàn bộ vào bến vượt bên bờ sông Thạch Hãn. Cứ đêm đến là có một dòng chảy thương binh từ thành cổ ra bờ phía Bắc và một dòng chảy tiếp viện và súng đạn ngược lại vào Nam. Công binh đã kéo những sợi cáp ngầm dưới mặt nước để bộ đội bám vào khi vượt sông. Pháo toạ độ căn thường xuyên trên khu vực đó và có nhiều tân binh chưa từng bắn một phát súng đã hy sinh ngay khi chưa đặt chân được lên bờ. Vào ban ngày lính thuỷ quân lục chiến đánh dọc hai bên bờ sông để cắt bến vượt khỏi thành cổ. Có ngày nguy cấp, bên ta chỉ còn giữ được 50 mét bờ sông. Cứ đêm xuống là các đơn vị trong thành cổ lại phản kích đánh bật thuỷ quân lục chiến ra để giành lại một đoạn bờ sông chừng 500 mét. Sáng ra, mọi việc lại lặp lại như cũ.



