Câu chuyện chiến tranh của người lính già
Bác tôi đã về hưu từ rất lâu. Suốt mười năm cuối đời ông ngoại, chỉ có bác ở bên, tắm rửa, chăm sóc từng bữa ăn, giấc ngủ. Trên ngực áo cũ treo vài tấm huân chương đã phai màu, trong ngăn tủ gỗ là những tờ giấy chứng nhận dũng sĩ nhàu nát theo đúng nghĩa đen. Nhưng lạ lùng thay, năm người con trai của bác dường như không ai biết – hoặc không muốn biết – về những năm tháng chiến tranh ấy. Và bác tôi cũng chưa bao giờ chủ động kể.
Mỗi lần mệt mỏi với cuộc sống, tôi lại về quê ông ngoại. Làng nằm bên sông La, chiều xuống, nắng tắt dần trên dải Trường Sơn xanh thẫm. Tôi hay ngồi ở đầu làng, nhìn lên khu mộ Phan Đình Phùng trên sườn núi. Những lúc rảnh việc nhà, bác tôi ra ngồi cạnh, lặng im. Tôi thích lịch sử, thường gợi chuyện về Đường 9 – Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị. Bác không kể liền mạch. Câu chuyện của bác giống mạch nước ngầm, khi trồi lên, khi biến mất, để lại trong tôi những mảng ký ức rời rạc mà nặng trĩu.
Bác kể về năm 1972.
Khi chiến trường Quảng Trị nóng lên từng ngày, lực lượng dự bị cạn kiệt. Miền Bắc động viên cả sinh viên đại học, công nhân các ngành trọng điểm – những người vốn được miễn nghĩa vụ quân sự. Bác tôi ra Sơn Tây nhận tân binh. Bác bảo, đó là lứa lính có học vấn cao nhất trong đời sĩ quan của bác: sinh viên, học sinh thành phố, trẻ măng, chưa quen gánh nặng chiến tranh.
Mỗi người mang hơn bốn mươi ký: súng, đạn, quân trang, lương thực. Lệnh rất rõ: không được bỏ người, không được bỏ vũ khí. Người ốm phải cáng theo. Đạn không được rơi lại một viên.
Chỉ hơn một tuần hành quân, đã có gần mười phần trăm tân binh phải cáng. Có người bàn chân phồng rộp đến mức không thể đứng lên. Người khỏe phải chia nhau mang thêm súng đạn, sức nặng có lúc lên tới năm mươi ký. Mỗi chặng dừng, lính trẻ nằm vật ra như chết. Có người úp mặt vào ba lô khóc nức nở. Có người đờ đẫn, phải xốc nách mới đứng dậy nổi.
Đêm xuống, họ không được nghỉ. Cán bộ khung phải dạy những điều tối thiểu để sống sót: tháo lắp súng, tránh bom, nghe tiếng đạn, phản xạ sinh tồn. Đói, mệt, nhiều người phản kháng, không nghe nữa.
Bác bảo, mâu thuẫn giữa lính sinh viên và cán bộ cựu binh là điều không tránh khỏi. Người lính quê, ít chữ nhưng đầy kinh nghiệm. Người lính trẻ nhiều chữ, quen lý luận, hay vặn vẹo. Có những bài học chỉ được trả bằng máu.
Một lần, dưới chân dốc Hương Sơn, bác thấy hai lính trẻ cáng một người sốt mê man. Trong ba lô người bệnh là từ điển Nga – Việt, thơ Puskin, sách văn học. Bác vứt sách đi. Người lính rít lên trong nước mắt:
“Không được vứt! Tôi là sinh viên!”
Bác nói một câu tiếng Nga. Người lính sững lại. Bác bắt anh đọc mười từ, rồi bác đọc lại bằng tiếng Nga. Xong, bác quăng cuốn từ điển đi:
“Nếu muốn tra từ, hỏi tao. Còn từ giờ đến chiến trường, học cách chiến đấu!”
Người lính không biết rằng người cán bộ giọng miền Trung trước mặt từng học ở Nga, từng là giảng viên đại học trước khi ra trận.
Có người lính Hà Nội, cao lớn, khi ném lựu đạn luôn nhô người lên, bất chấp nhắc nhở. Bác ngồi ngay mép công sự, cầm roi tre. Khi anh lính nhô người, bác quật thẳng vào mặt:
“Nếu đây là chiến trường, AR-15 đã xé nát mặt anh rồi!”
Sau này, trong thành cổ, khi cả chốt hy sinh, chính người lính đó nhô mình khỏi tường thành, bắn hết một băng trung liên. Anh gục xuống, ngực nát bươm, nhưng chốt không mất.
Vào thành cổ Quảng Trị, đơn vị bác tôi mất hai mươi phần trăm quân số ngay khi vượt sông Thạch Hãn. Một tuần sau, chỉ còn chừng đó người sống sót. Mỗi ngày đêm, một đại đội ngã xuống. Ban đêm phản kích, ban ngày pháo dội. Những trận xáp lá cà, lắp lê, hô “lắp lê!” vang dọc chiến hào khiến đối phương rút lui như có một thỏa thuận ngầm giữa những người đã quá hiểu cái chết.
Khi rút khỏi thành cổ, đơn vị bác còn bốn mươi người. Chỉ mười sáu là lành lặn.
Nhiều năm sau hòa bình, người chỉ huy già gặp lại số lính sống sót, lần nào cũng khóc:
“Ngày ấy chúng mày chết nhiều quá, có oán bố không?”
Bác tôi không thích bài “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Bác nói, với nhà thơ, con đường ấy có hoa, có nắng. Với bác, nó chỉ có máu, mồ hôi, nước mắt và kiệt lực. Nhưng vẫn phải đi, vì không có con đường nào khác.
Bác nhìn về dãy Trường Sơn xa thẳm, giọng trầm xuống:
“Bác chỉ tiếc… ngày ấy giá mà mình nghiêm hơn nữa, ‘ác’ hơn nữa… thì chắc nhiều đứa giờ này còn sống.”
Nắng chiều tắt hẳn. Núi Trường Sơn chìm trong bóng tối. Và câu chuyện của người lính già, như chiến tranh, khép lại trong im lặng – im lặng dài, nặng, không thể gọi thành lời.



