Bài viết

CÂU CHUYỆN CHIẾN TRANH CỦA NGƯỜI LÍNH GIÀ

Ninh Bình20/05/2026Phạm Thị Ngọc Bích (xã Gia Viễn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bác tôi về hưu đã lâu, suốt 10 năm cuối đời của ông ngoại tôi, một mình bác chăm sóc, tắm rửa cho ông. Bác có năm người con trai nhưng hình như các anh không ai biết thời chiến tranh bác tôi huân chương đỏ ngực, giấy chứng nhận dũng sỹ phồng túi áo (theo đúng nghĩa đen). Các anh dường như không quan tâm câu chuyện về thời chiến tranh và bác cũng không muốn kể.


Hồi mới ra trường, thỉnh thoảng mệt mỏi về cuộc sống, tôi lại về thăm ông ngoại. Làng ông ngoại tôi cạnh sông La, cuối mỗi buổi chiều, tôi thường ra ngồi đầu làng ngắm nắng tắt trên dải Trường Sơn. Bác tôi thỉnh thoảng xong việc nhà thì ra ngồi cạnh tôi và nhìn lên khu mộ Phan Đình Phùng trên sườn núi. Tôi thích lịch sử nên thường gợi chuyện về những Đường 9 Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị. Thỉnh thoảng bác tôi vừa làm việc nhà vừa kể chuyện, còn tôi loanh quanh đi theo lắng nghe.


Các câu chuyện của bác tôi rời rạc và dường như không liền mạch, giống như mạch nước ngầm thỉnh thoảng lại trồi lên mặt đất rồi biến mất. Câu chuyện thứ nhất.


Năm 1972, quân đội Sài Gòn bắt đầu phản công từ sông Mỹ Chánh và từng bước đầy lùi quân ta về thị xã Quảng Trị. Vào thời điểm đó, các đơn vị đã bắt đầu cạn lực lượng dự bị. Chiến trường cần lực lượng bổ sung gấp và Miền Bắc bắt đầu động viên tới sinh viên các trường đại học và công nhân trong các ngành quan trọng vốn được miễn nghĩa vụ quân sự. Các cán bộ khung như bác tôi ra Bắc nhận tân binh vừa được huấn luyện cơ bản để đưa vào chiến trường. Bác tôi kể rằng trong đời sỹ quan của bác, lứa tân binh năm đó là lứa có học vấn cao nhất. Chiến trường cần người gấp nên thời gian huấn luyện tân binh được rút ngắn. Các tân binh trong nhiều trường hợp không được biên chế lại nên họ hành quân vào Nam theo đơn vị của họ khi nhập ngũ. Do đó, có những đơn vị toàn sinh viên của cùng một trường đại học, hoặc cùng một huyện, một xã. Bác tôi nói, đó là điều mà cán bộ quân lực thường tránh (vì với tỷ lệ thương vong nhiều khi lên tới 40-50% một trận đánh thì rất nhiều gia đình trong cùng một địa phương sẽ nhận được giấy báo tử cùng một lúc). Thế nhưng năm 1972, mọi điều đều khác – không có thời gian cho tất cả những thứ đó.


Bác tôi nhận tân binh ở Sơn Tây. Tất cả đều trẻ măng, đa phần là người thành phố, tốt nghiệp cấp 3 và rất nhiều sinh viên đại học. Mỗi người phải mang 40 kg bao gồm quân trang, vũ khí, toàn bộ cơ số đạn chiến đấu và dự trữ. Lệnh trên xuống là trong mọi trường hợp không được bỏ người lại, người nào ốm thì phải cáng mang theo. Lương thực, quân trang thì có thể vứt lại nhưng vũ khí và đạn dược thì tuyệt đối không. Người nào không đủ sức mang thì phải san sẻ cho toàn đơn vị.


Hầu hết số tân binh đều chưa quen vác nặng đi đường trường, ngoài ra, vì thời gian huấn luyện ngắn, các đơn vị khung ngoài Bắc chỉ kịp huấn luyện cho họ những kiến thức cơ bản nhất. Mọi kinh nghiệm chiến đấu còn lại sẽ được cán bộ khung từ chiến trường ra dạy họ trên đường vào Nam. Chỉ hơn một tuần sau khi rời khỏi Sơn Tây đã có khoảng 10% số tân binh phải cáng. Có nhiều người đơn giản không thể đi được vì toàn bộ bàn chân bị phồng rộp. Lương thực có thể bỏ lại nhưng súng đạn thì phải mang theo – điều đó khiến cho sức nặng phải mang của những người còn lại trong đơn vị lên tới 45-50 kg. Mỗi chặng dừng chân, tân binh nằm vật ra như ngất, có người gục mặt vào ba-lô khóc, có người đờ đẫn phải được xốc nách hai bên mới đứng dậy hành quân tiếp được.


Cuối mỗi ngày, tân binh dừng chân nhưng không được nghỉ ngay vì cán bộ khung phải dạy họ những kiến thức tối thiểu để sống sót trên chiến trường. Đói đến hoa mắt, mệt đến mê muội, nhiều tân binh gần như không thể nghe được nữa hoặc bùng nổ phản kháng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn