Câu Chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Cao Bằng (tháng 2-1961)
Đầu năm 1961, đồng bào Pác Bó, Cao Bằng đang vui xuân thì được tin có phái đoàn Đảng, Chính phủ về thăm quê hương cách mạng. Theo hồi ký của đồng chí Việt Dân, cán bộ tổ chức Huyện ủy Hà Quảng lúc bấy giờ, trước đó, được biết là Bác Hồ sẽ lên Pác Bó bằng máy bay trực thăng, các đồng chí lãnh đạo yêu cầu dân đi đắp đất làm bến đỗ cho máy bay trực thăng nhưng không nói để làm gì. Dân chúng không chịu, kêu đất mùa này cứng, khó làm. Đồng chí Dương Đại Long, quê Pác Bó là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng lúc đó, liền nói với đồng chí Việt Dân: Nói bí mật với nhân dân không được đâu, cứ nói thật với bà con là đi đầm đất ở đám ruộng trước bản Bó Bẩm để làm bãi cho máy bay lên thẳng đưa Bác Hồ lên thăm quê hương mình. Nghe nói vậy, bà con phấn khởi, nô nức đi làm bởi ai cũng mong được đón Bác về thăm.
Thế rồi điều mong ước của đồng bào Pác Bó đã trở thành hiện thực. Chiều ngày 19-2-1961, Bác cùng đồng chí Tố Hữu, Nguyễn Khai và đồng chí Lê Quảng Ba đến thị xã Cao Bằng bằng ôtô. Sáng hôm sau, 20-2-1961, tức ngày Chủ nhật, mùng 5 Tết Tân Sửu, Bác và đoàn về thăm và chúc tết đồng bào Pác Bó - Hà Quảng.
Dọc đường đi, qua các thôn bản, cả đoàn cùng ôn lại những kỷ niệm xưa đã ở nơi đây: bản Nà Toàn quê hương của đồng chí Hoàng Đình Giong. Đồng chí Hoàng Đình Giong là một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng. Từ chủ nghĩa yêu nước, đồng chí đã sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu đường lối cách mạng Việt Nam do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá từ nước ngoài về, là người trực tiếp đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin đến với các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Tháng 6-1928, đồng chí đã được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Long Châu (Trung Quốc) và đóng góp tích cực cho hoạt động của Hội. Khi trở về nước hoạt động, đồng chí từng bị bắt, bị tù đày qua nhiều nhà tù và bị đày biệt xứ đi Mađagátxca (một thuộc địa của Pháp ở châu Phi). Trước năm 1945, đồng chí Hoàng Đình Giong trở về nước hoạt động và tham gia lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau khởi nghĩa, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng bộ đội Nam tiến đánh thực dân Pháp xâm lược và từng giữ các chức vụ: Chính ủy Quân Giải phóng Nam Bộ, Tư lệnh Khu IX, Tư lệnh Khu VI. Trong những ngày đầu kháng chiến ở Nam Bộ, đồng chí đã góp phần xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Năm 1947, trên đường trở về Trung ương nhận nhiệm vụ, không may bị địch tập kích bất ngờ, đồng chí cùng các cộng sự chiến đấu quyết liệt và hy sinh anh dũng. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Hoàng Đình Giong chính là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng.
Bà con Pác Bó cứ nghe ngóng tiếng máy bay trực thăng, nhưng Bác Hồ lại đi ôtô từ Tỉnh ủy Cao Bằng lên Đồn Chương cách Pác Bó 10 km. Hồi ấy, từ Đồn Chương vào Pác Bó là đường ngựa, lại gập ghềnh. Đồng bào ở địa phương đã chuẩn bị sẵn mấy con ngựa để Bác và đoàn đi vào Pác Bó. Nhưng Bác chưa lên ngựa ngay, mà thong dong đi bộ, ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường. Mỗi lùm cây, mỗi mỏm đá hai bên đường đã từng chứng kiến biết bao sự việc anh hùng của cách mạng, của cán bộ và nhân dân ở vùng này trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Bác và đoàn khi thì đi ngựa, lúc thì đi bộ. Tất cả mọi người đều có cảm giác như sống lại những ngày của cách mạng hồi đánh Tây, đánh Nhật… Trở lại thăm Pác Bó, thăm những người thân thuộc, gắn bó với cách mạng từ trước đây 20 năm, Bác không khỏi nhớ tới bao nhiêu sự việc đã xảy ra ở khu vực này.
Đồng ruộng Pác Bó vẫn ở khoảnh đất cũ, vẫn những đám ruộng nằm trong thung lũng hẹp này, nhưng nay đã thay đổi cách làm ăn sản xuất, thay đổi chủ. Chủ những mảnh ruộng ấy không còn là những nông dân cá thể ngày xưa nữa, giờ đây họ đã là những xã viên, những người nông dân làm ăn tập thể.
Cả làng Pác Bó, già, trẻ, gái, trai đều ra đón Bác. Đồng bào ở Sóc Giang, Đào Ngạn, Nà Giàng, Đồn Chương cũng đến đây cùng đồng bào Pác Bó đón Bác. Những cụ già mặc áo bông xanh, đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, nét mặt tươi vui, dắt các cháu nhỏ quần áo hoa đủ màu sắc. Cháu nào cũng má đỏ, mắt tinh, không còn cảnh bụng ỏng, đầu trọc như xưa nữa. Mấy cháu nhà đồng chí Đại Lâm (đồng chí Đại Lâm được Bác Hồ giác ngộ cách mạng trong những năm tháng Người ở đây) trước kia được Bác chăm sóc, nay đã là những chàng thanh niên tuấn tú, trong đó có Việt Dân - cán bộ tổ chức Huyện ủy Hà Quảng, Cao Bằng.
Bác cùng các thành viên trong đoàn xuống làng Pác Bó. Trông thấy Bác, đồng bào reo hò, phấn khởi. Các cụ vây quanh Bác; có cụ nắm tay Bác lắc lắc. Bác và các cụ nhìn nhau nói không nên lời. Các bà, các chị ai cũng ngấn ngấn nước mắt, mừng mừng, tủi tủi, nhớ lại những ngày khổ nhục trước kia và cảnh no ấm đoàn tụ ngày nay. Các cháu nhỏ, chỉ biết Bác qua ảnh, qua các bài học, hôm nay mới tận mắt trông thấy Bác. Đây “Cúng Hổ” mà ông bà, cha mẹ các cháu thường kể cho các cháu nghe là: khi cha mẹ các cháu còn nhỏ bằng các cháu, “Cúng Hổ” đã ở đây lãnh đạo đồng bào đánh Tây, đánh Nhật. Hôm nay “Cúng Hổ” đã về đây, các cháu vô cùng sung sướng, ríu rít bên Bác như đàn chim non. Cả làng Pác Bó hân hoan vây quanh Bác như đón người thân đi xa về.
Nhìn Bác giản dị trong chiếc áo bông, gần gũi, thân thiết như một người cha, ai cũng cảm động rưng rưng nước mắt. Nhân dân Pác Bó tổ chức mít tinh đón Bác với đủ các màu sắc dân tộc: áo chàm của dân tộc Tày, Nùng; váy trắng, áo hoa văn sặc sỡ, vòng bạc đeo đầy cổ, đầy tay của đồng bào Mông. Khi Bác vẫy tay chào mọi người, dàn nhạc, choong nào của người Nùng rền vang, pí lè của người Dao réo rất liên hồi, người Mông thổi kèn át cả tiếng vỗ tay âm vang cả núi rừng.
Sau một lúc lâu, Bác mới nói được với đồng bào:
Bà con làm gì mà đông thế này?
Đồng bào reo lên: Đón Bác ạ! Năm mới chúc Bác mạnh khỏe ạ. Sau khi chúc lại đồng bào, Bác nói vui với đồng bào: Tôi về thăm nhà mà, sao lại đón tôi?!
Nghe Bác nói, đồng bào cảm động, rưng rưng nước mắt. Thực vậy, Bác về thăm Pác Bó, thăm Cao Bằng là Bác về thăm nhà. Nhà Bác, quê hương Bác không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn, mà nhà Bác, quê hương Bác là nơi căn cứ cách mạng; là mọi nơi của Tổ quốc thân yêu.
Khái niệm “về nhà”, về “quê hương” của Bác rất rộng lớn, rất cách mạng và đầy tình nghĩa. Khái niệm đó ngày nay đang được thế hệ trẻ và đồng bào cả nước phát huy, họ không phân biệt miền xuôi hay miền núi, đất liền hoặc hải đảo, miền Nam hay miền Bắc; quê hương của họ, nhà họ không phải chỉ là nơi chôn rau cắt rốn nữa. Hàng chục vạn đồng bào và thanh niên đã theo lời kêu gọi của Đảng đi lên miền núi, trung du, miền biển để phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng. Họ đi tới mọi nơi mà Đảng cần họ đến đó và nơi đó là nhà, là quê hương của họ.
Đến lễ đài đón Bác, đồng chí Tố Hữu và đồng chí Lê Quảng Ba chia kẹo cho các em nhỏ và mọi người. Bác nói chuyện với đồng bào, giọng Bác rất khỏe, lời Bác vang vọng cả núi rừng, hùng hồn, trong sáng và thanh thản như dòng suối Lênin rì rào chảy.
Sau khi thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ và các đồng chí cùng đi, thăm hỏi sức khỏe và chúc Tết đồng bào xong, Bác hỏi đồng bào:
Bà con ta đã vào hợp tác xã chưa?
Vào nhiều rồi, Bác ạ. Đồng bào trả lời.
Bác lại hỏi:
Có đoàn kết với nhau không? Sản xuất có tốt không, còn ai đói không?
Đồng bào vui cười trả lời Bác:
Thưa Bác, đoàn kết giúp nhau sản xuất tốt rồi, không có người đói nữa rồi.
Bác khen: thế thì tốt, nhưng phải đoàn kết xây dựng hợp tác xã và sản xuất thật tốt hơn nữa. Trước kia đồng bào đã đoàn kết hăng hái đánh Tây, đánh Nhật, bây giờ phải đoàn kết hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân ta giàu, nước ta mạnh hơn nữa. Hiện nay, một nửa nước ta còn bị Mỹ và tay sai chiếm đóng, đồng bào ta trong đó còn bị đau khổ. Ta ở ngoài này phải cố gắng xây dựng miền Bắc thật tốt, làm được như thế nước ta sẽ mau thống nhất và giàu mạnh, đồng bào Nam, Bắc sẽ được sum họp một nhà. Đồng bào có quyết tâm làm được không?
Đồng bào đồng thanh trả lời: Làm được, nhất định làm được!
Trong buổi đón Bác hôm ấy, đồng bào thật nhiều cảm xúc, nhiều ý nghĩa. Người thì nhắc lại những cảnh nghèo đói ngày xưa để so sánh với ngày nay, người thì nhắc lại những khó khăn trong thời gian Bác còn phải hoạt động bí mật, người thì nói Bác về lần này cũng đúng vào dịp Tết như trước đây 20 năm khi Bác mới về Pác Bó lần đầu, người thì sung sướng thấy Bác khỏe mạnh hồng hào… Trước những cảm xúc đó của đồng bào, đồng chí Lê Quảng Ba đã làm mấy câu thơ theo lối của địa phương, nói lên tình cảm của đồng bào đối với Bác:
Xuân hai mươi năm trước ngày này
Theo đường Pò Vần, Bác tới đây
Hôm nay xuân, tháng Giêng mồng sáu
Pác Bó, lại được dịp đón người.
…
Ngày trước như trời mây u ám
Nay như mặt trời rạng rỡ soi
Nhân dân ta ngày càng no ấm
Bác Hồ mừng mạnh khỏe sống lâu!
Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng ảnh của Người cho nhân dân Pác Bó. Mỗi tấm ảnh đều có chữ ký của Bác rất đẹp. Ba chị dân tộc Nùng vinh dự được đại diện tặng Bác mấy đôi giày vải tự làm. Trong các chị này, hồi Bác còn hoạt động bí mật ở đây, có chị còn chưa cất tiếng khóc chào đời, có chị mới biết lẫy. Bây giờ các chị đã biết khâu giày vải cho Bác. Khi khâu, các chị cứ nhiều lần hỏi các mẹ, các cô: “Có thật dài rộng bằng này thì Bác đi vừa chân không?”. Các chị sung sướng cầm đôi giày vải dâng lên tặng Bác. Bác đã nhận mà các chị còn tần ngần đứng lại chưa muốn bước.
Về đến sân nhà đồng chí Đại Lâm, Bác đề nghị chụp ảnh chung với gia đình. Bác ngồi ở giữa bế cháu nhỏ, mọi người quây quần bên Bác. Sau đó, Bác ăn cơm trưa cùng gia đình, bữa cơm có thịt gà, lợn quay, đặc biệt có rau cải xoong mà Bác đã gây giống năm xưa ở đầu nguồn suối Lênin. Bác ngả lưng một lúc rồi lên thăm hang Pác Bó.
Từ nhà đồng chí Đại Lâm, theo lối cũ, ven suối Lênin, Bác và đoàn trở lại thăm hang Pác Bó. Đi ngược dòng suối một lúc tới khe cạn; phía trên đó là Khuổi Nặm, nơi đã họp Hội nghị Trung ương lần thứ tám; nơi đó cũng là nơi Bác ở lâu nhất trong thời gian ở Pác Bó, nơi đây, Bác đã cùng các đồng chí trồng rau, nuôi gà, xúc tép, hái măng,…
Bác bảo đồng chí Dương Đại Hoa, cán bộ tỉnh Cao Bằng dẫn đoàn vào thăm hang, còn Bác rẽ vào ven suối để trồng 3 khóm trúc. Đồng bào thưa với Bác! Trúc là cây trường thọ, mời Bác trồng trúc để biểu thị lòng tôn kính, tin tưởng của dân đối với Đảng, với Bác, với Chính phủ và kính chúc Bác sống lâu trăm tuổi để lãnh đạo toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Bác ra ngồi trên tảng đá nhô lên mặt nước nơi ngày xưa Bác thường ngồi câu cá. Bác kể cho mọi người nghe những ngày Bác ở đây. Ở đây, Bác cất tiếng vui vẻ bảo đồng chí Tố Hữu:
Nào nhà thơ, làm thơ đi chứ!
Mời Bác làm trước ạ, đồng chí Tố Hữu mỉm cười trả lời.
Bác nói:
Vậy thì tôi làm trước. Trầm ngâm một lát, Bác cất tiếng ấm áp ngâm:
“Hai mươi năm trước nơi này
Đảng vạch con đường đánh Nhật - Tây
Lãnh đạo toàn dân ta chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”.
Trên đường ra về, Bác nói với mọi người: sau này, con đường từ đây đến thị xã nên trồng cây có hoa đỏ để thành con đường đỏ.
Ra đến bờ suối Lênin, Bác và các đồng chí cùng đi chụp ảnh trước cây hoa đào đang nở rộ. Nhân dân tập trung ở đầu làng tiễn đưa Bác. Bác vẫy tay lưu luyến chào mọi người, sau đó Bác và các đồng chí cùng đi cưỡi ngựa ra Nà Mạ, nơi có mộ anh hùng liệt sĩ Kim Đồng. Từ đây, máy bay lên thẳng do phi công Liên Xô lái đưa Bác về sân bay Nà Cạn, thị xã Cao Bằng.
Từ Pác Bó trở về thị xã Cao Bằng, Bác về nghỉ ở trụ sở Tỉnh ủy đóng tại phố Vườn Cam. Sáng ngày 21-2-1961, Bác đã dành thời gian đến thăm Bệnh viện tỉnh. Tại Bệnh viện tỉnh, Bác đã nhắc nhở: “Nhiều xã có trạm chữa bệnh. Như thế là khá. Cần phải tuyên truyền rộng khắp phong trào thể dục và vệ sinh phòng bệnh, làm cho mọi người biết ăn sạch, uống sạch, mặc sạch, ở sạch”.
Cũng trong ngày hôm đó, sau khi thăm Bệnh viện tỉnh, Bác đã đến Sân vận động thị xã Cao Bằng để nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng.
Trong cuộc mít tinh của nhân dân, cán bộ toàn tỉnh Cao Bằng, Bác căn dặn một số vấn đề đồng bào và cán bộ Cao Bằng cần chú ý. Đó là phải đoàn kết giữa các dân tộc, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, phát triển công nghiệp, văn hóa, giáo dục, tăng cường sức mạnh của các đoàn thể quần chúng, quân đội nhân dân, dân quân tự vệ và công an nhân dân vũ trang. Bác yêu cầu đảng viên và cán bộ Cao Bằng phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân,… Bác nói:
“Đồng bào tỉnh ta đã anh dũng trong cách mạng và trong kháng chiến thì chắc đồng bào càng anh dũng trong lao động sản xuất để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm nay, làm đà tốt cho cả kế hoạch 5 năm. Như thế là đồng bào tỉnh ta sẽ góp phần xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững mạnh để thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
Cuối cùng, Bác thân ái gửi lời hỏi thăm tất cả đồng bào các dân tộc, cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, công nhân, bộ đội, công an, dân quân, các cụ phụ lão, các cháu nhi đồng, các bạn Hoa kiều ở các địa phương, thân ái hỏi thăm các gia đình đã ủng hộ cách mạng trong thời kỳ bí mật, các gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ, các anh hùng và chiến sĩ thi đua, cảm ơn các đồng chí chuyên gia nước bạn đang giúp ta ở Cao Bằng.
Cũng trong buổi nói chuyện, Bác hỏi:
Cao Bằng giờ có dám phấn đấu để không ai cao bằng mình không?
Đồng chí Hồng Kỳ, Bí thư Tỉnh uỷ, đứng dậy nhìn các cộng sự của mình, rồi thưa rằng:
Dạ, phong trào cả tỉnh đang nhiều mặt yếu, Bác dạy thế cao quá, Cao Bằng khó lòng đạt được.
Sau vài giây suy nghĩ, Bác hỏi:
Vậy thì, Cao Bằng chí ít cũng phải phấn đấu để cao bằng người ta.
Sự kiện Bác về thăm Cao Bằng và có những điều căn dặn về mọi mặt công tác của tỉnh Cao Bằng trong bài nói chuyện tại Sân vận động sáng ngày 21-02-1961 là nguồn cổ vũ, động viên lớn để cán bộ, nhân dân Cao Bằng tiếp tục phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đây là lần cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Cao Bằng. Trong những năm sau này, vì tuổi cao sức yếu, không về thăm Cao Bằng được nhưng Bác luôn quan tâm, dành nhiều tình cảm cho đồng bào các dân tộc nơi đây. Người vẫn thường xuyên gửi lời thăm hỏi đến đồng bào, đồng chí Cao Bằng, chúc tất cả mạnh khỏe, vui vẻ, công tác tốt, sản xuất tốt. Bác gửi những tình cảm thắm thiết đến mọi gia đình, đến các cụ, các mẹ và các cháu nhi đồng.
Đặc biệt, trong rừng hoa người tốt, việc tốt của cả nước, từ năm 1961 đến năm 1969, có rất nhiều tấm gương cán bộ, nhân dân Cao Bằng vinh dự được Bác Hồ tặng thưởng huy hiệu. Đó là tấm gương của anh Phạm Trung Phồn, chị Đàm Thị Bảy được Bác Hồ tặng thưởng huy hiệu năm 1962. Chị Bảy là giáo sinh Trường Sư phạm Sơ cấp Cao Bằng đã tình nguyện tham gia chiến dịch diệt dốt ở vùng cao do Tỉnh uỷ phát động. Chị được ghi tên lên hàng đầu trong danh sách 7 giáo sinh có thành tích cao, giúp 35 người biết chữ, bổ túc văn hóa cho 46 người, bồi dưỡng cho 4 giáo viên địa phương. Anh Trịnh Văn Thạch, người thương binh dân tộc Nùng ở xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, người mang chữ cụ Hồ cho các dân tộc vùng cao. Anh đã xung phong tình nguyện đem hết sức mình tham gia phong trào diệt dốt. Là người luôn tận tụy với công tác, anh đã tổ chức được 101 lớp học với 676 học viên, đạt 110% kế hoạch về bổ túc văn hóa, 143% kế hoạch về thanh toán nạn mù chữ của xã. Anh vinh dự được Bác Hồ thưởng huy hiệu năm 1962.
Ngoài ra, còn rất nhiều các tấm gương khác của Cao Bằng được Bác Hồ tặng thưởng huy hiệu của Người, như: Đinh Thị Út, cán bộ thú y giỏi người dân tộc Tày; Nông Đại Húy, học sinh xóm Pác Cuối, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, được mệnh danh là kiện tướng làm phân, phân đoàn trưởng thanh niên gương mẫu; Hoàng Thị Mão, người cán bộ phụ nữ gương mẫu trong công tác nuôi con khỏe, dạy con ngoan của Hợp tác xã Kẻ Già, xã Lang Môn, huyện Nguyên Bình; Hoàng Thị Phúc, công nhân nữ lái tàu điện của Mỏ thiếc Tĩnh Túc đã áp dụng sáng kiến cải tiến kỹ thuật đưa năng suất từ 280 lên 320 xe một ca; đạt danh hiệu kiện tướng xuất sắc, chiến sĩ thi đua 2 năm liền của mỏ; Nguyễn Thị Cục, người đảng viên bốn tốt, người cán bộ xuất sắc của Đảng, một người mẹ đảm đang thuộc phố Trà Lĩnh, xã Hưng Quốc (nay là Thị trấn Hùng Quốc); Quản Thị Hoa, người giáo viên hết lòng chăm lo cho học sinh, vận động bà con dân tộc cho con em đến lớp học ở bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Các cháu ngoan Bác Hồ như: Trần Thị Liệu học sinh lớp 2, Trường Sóc Giang, huyện Hà Quảng; Bằng Huyên học sinh lớp 4, Trường cấp I thị xã Cao Bằng; Phạm Kỳ Sơn học sinh lớp 4 của Trường cấp I Nước Hai; cụ Đào Thị Phấn ở thị xã Cao Bằng có 6 người con đi bộ đội vinh dự được Bác tặng hoa và huy hiệu;…
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra ác liệt, ngày 2-9-1969, trái tim vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngừng đập, Người đã đi vào cõi vĩnh hằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời làm cho nhân dân cả nước cũng như nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng vô cùng thương tiếc và đau đớn khôn nguôi. Cán bộ và nhân dân tỉnh Cao Bằng đã tổ chức truy điệu Bác bên dòng suối Lênin trong niềm tiếc thương vô hạn. Bác đã đi xa nhưng Người sẽ luôn sống mãi trong lòng các thế hệ cán bộ, nhân dân các dân tộc nơi đây. Biến đau thương thành hành động cách mạng, tỉnh Cao Bằng quyết tâm thực hiện những lời
Bác dạy, góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Đồng bào, đồng chí Cao Bằng sẽ luôn phấn đấu để xứng đáng với truyền thống của quê hương cách mạng. Trong cuốn Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Cuộc đời của Bác gắn bó mật thiết với đất nước Việt Nam, với đồng bào Việt Nam, đặc biệt với đồng bào Cao Bằng, với rừng núi Cao Bằng, nơi Bác đã đặt chân đầu tiên sau bao nhiêu năm xa Tổ quốc. Đó là vinh dự, là niềm tự hào của Cao Bằng”.



