Bài viết

CÂU CHUYỆN CỤ TRẦN VĂN BẢY

Năm 1965, khi tiếng kẻng báo động vang lên giữa những cánh đồng lúa quê nhà ở xã Giao Ninh (huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định), ông Trần Văn Bảy – khi ấy vừa tròn 20 tuổi – đã xung phong viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Là con trai cả trong gia đình làm nông, ông hiểu phía trước sẽ là những tháng ngày gian khổ, nhưng tiếng gọi của Tổ quốc lớn hơn tất cả. Ngày tiễn quân, cả xóm đứng kín đầu làng. Mẹ ông lặng lẽ trao cho con chiếc khăn tay tự thêu, dặn “giữ gìn sức khoẻ mà trở về”. Ông cùng nhiều than

Ninh Bình06/04/2026VŨ KHÁNH LINH (11A3)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1965, khi tiếng kẻng báo động vang lên giữa những cánh đồng lúa quê nhà ở xã Giao Ninh (huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định), ông Trần Văn Bảy – khi ấy vừa tròn 20 tuổi – đã xung phong viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Là con trai cả trong gia đình làm nông, ông hiểu phía trước sẽ là những tháng ngày gian khổ, nhưng tiếng gọi của Tổ quốc lớn hơn tất cả.

Ngày tiễn quân, cả xóm đứng kín đầu làng. Mẹ ông lặng lẽ trao cho con chiếc khăn tay tự thêu, dặn “giữ gìn sức khoẻ mà trở về”. Ông cùng nhiều thanh niên trong xã lên đường huấn luyện tại một đơn vị bộ binh thuộc Quân khu 3. Những ngày đầu làm quen với kỷ luật thép, hành quân dã ngoại xuyên đêm, vai đeo ba lô nặng trĩu, nhiều lúc đôi chân rã rời, nhưng tình đồng đội đã giúp họ vượt qua tất cả.

Sau thời gian huấn luyện, đơn vị ông hành quân vào chiến trường miền Nam. Những năm tháng ở tuyến lửa là quãng đời không thể nào quên. Sống giữa rừng sâu, bữa cơm vội với lương khô, nước suối, ngủ võng giữa mưa rừng, đối mặt với bom đạn ác liệt, nhưng anh em luôn kề vai sát cánh. Ông từng kể lại rằng điều đáng nhớ nhất không chỉ là những trận đánh căng thẳng, mà là những khoảnh khắc yên bình hiếm hoi: cùng nhau chia nhau điếu thuốc, kể chuyện quê nhà, nhắc đến con sông, cánh đồng Giao Ninh đang vào mùa gặt.

Trong một trận chiến ác liệt năm 1968, ông bị thương ở chân nhưng vẫn cùng đồng đội giữ vững vị trí cho đến khi được lệnh rút lui. Sau đó, ông được điều trị và tiếp tục trở lại đơn vị cho đến ngày đất nước thống nhất.

Năm 1975, ông trở về quê hương Nam Định. Cánh đồng xưa vẫn còn đó, con đường làng vẫn rợp bóng tre, nhưng nhiều người bạn cùng nhập ngũ năm nào đã không trở về. Ông trở thành hội viên Hội Cựu chiến binh xã, thường kể lại cho thế hệ trẻ nghe về những năm tháng “hoa lửa” – về lòng dũng cảm, về tình đồng chí, và trên hết là khát vọng hòa bình.

Ông vẫn nói:

“Chiến tranh là mất mát, nhưng trong gian khổ nhất, con người ta lại thương nhau nhất. Điều quý giá nhất tôi mang về không phải là huân chương, mà là tình đồng đội và niềm tự hào đã sống trọn tuổi trẻ cho quê hương.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn