Câu chuyện của CCB Nguyễn Văn Đô
Câu chuyện người lính trở về – ký ức không phai của Cựu chiến binh Nguyễn Văn Đô
“Có những vết thương qua năm tháng đã liền da, nhưng nỗi đau và kỷ niệm của chiến trường thì chẳng bao giờ lành được…” – đó là câu mở đầu mà Cựu chiến binh Nguyễn Văn Đô thường nói mỗi khi được hỏi về những tháng ngày khoác áo lính.
1. Từ chàng trai 18 tuổi rời quê theo tiếng gọi thiêng liêng
Ông Nguyễn Văn Đô sinh năm 1964, lớn lên trong tiếng sóng sông Lô và những câu chuyện kể về chiến thắng Sông Lô huyền thoại. Gia đình nghèo, nhà có 6 anh chị em, tuổi 18 ông lên đường nhập ngũ, mang trong tim lời dặn của cha:
“Đã là trai Sơn Đông thì phải sống sao cho xứng với người đất Tổ.”
Ngày ông đi, mẹ dúi vào tay nắm cơm nếp gói lá chuối và dặn:
“Đi mạnh giỏi con nhé, xóm làng mình tin các con lắm!”
Ông khoác ba lô mà chân cứ run, vừa háo hức vừa lo sợ – một tâm trạng rất thật của những người lính trẻ khi bước vào trận tuyến.
2. Những ngày chiến trường – nơi tuổi 18 hoá thành tuổi thép
Nhập ngũ, ông được biên chế vào đơn vị công binh thuộc Quân khu 2. Công việc chính là mở đường, rà phá vật cản và bảo đảm cho bộ binh tiến quân.
“Công binh là lính mở lối, đi trước đón đầu. Chúng tôi hay nói vui rằng:
Bom nổ chậm thì nó đợi mình, còn bom nổ nhanh thì mình… đợi nó!”
Ông Đô nhớ rõ nhất trận đánh ở tuyến biên giới Vị Xuyên năm 1984 – những tháng ngày mà đá núi còn nóng vì đạn pháo.
Một lần đơn vị nhận lệnh mở đường vào điểm cao dù pháo địch bắn suốt ngày đêm. Ông cùng tổ phải bò dưới chân núi, từng nhát cuốc, từng nhịp thở đều căng như dây đàn. Vừa mở được mương thoát nước thì pháo 130 ly của đối phương giội xuống như sấm.
“Khói bụi mịt mù, đất đá vùi kín cả lưng. Tôi nghe tiếng anh T. nằm cạnh thều thào gọi tên mẹ. Khi kéo được anh ra, tôi mới biết một chân anh đã… không còn.”
Đó là lần đầu tiên ông nhìn thấy đồng đội hy sinh ngay trước mắt. Ông lặng giọng kể:
“Tuổi 20 của chúng tôi không có sinh nhật, không có những buổi chiều yêu đương hò hẹn. Chỉ có tiếng đạn xé gió, tiếng gọi nhau trong hầm sâu và lời động viên:
“Sống thì cùng sống, chết thì cùng chôn.”
Nó mộc mạc vậy thôi, mà thiêng liêng lắm…”
3. Ngày trở về – không chỉ mang theo vết thương thể xác
Sau nhiều năm chiến đấu, ông Đô phục viên trở về quê hương khi mới 26 tuổi. Mái nhà tranh ở Sơn Đông vẫn còn đó, nhưng ngôi làng dường như nhỏ lại so với những gì ông đã trải qua.
Ông trở về với những vết thương âm thầm:
những đêm mất ngủ vì ám ảnh tiếng pháo;
những ngày trái gió trở trời, chân tay đau buốt vì mảnh pháo;
và đặc biệt là nỗi nhớ đồng đội đã nằm lại nơi biên giới.
Có lần vợ ông hỏi đùa:
“Ông đi lính mà già hơn người ta mấy tuổi như thế, chắc gian khổ lắm hả?”
Ông chỉ cười trầm:
“Nếu em nghe được tiếng đất đá đổ xuống hầm, em sẽ hiểu vì sao một đêm thôi, người lính có thể già đi cả vài năm…”
4. Tâm huyết với đồng đội – sống trọn nghĩa tình người lính Cụ Hồ
Những năm về sau, ông Đô luôn là thành viên tích cực của Hội Cựu chiến binh xã.
Ai nghèo khó, bệnh tật, hay có chế độ gì cần hỗ trợ, ông đều xắn tay giúp ngay. Ông thường nói:
“Ngày xưa đồng đội nhường nhau từng giọt nước, từng viên thuốc.
Giờ về đời thường, chẳng lẽ lại quay lưng?”
Ông cùng các hội viên đi vận động xây nhà đồng đội, thăm người ốm, trao học bổng cho con em gia đình quân nhân – những việc chẳng ai bảo mà ông vẫn làm.
Nhiều thanh niên trong xã kể rằng nhờ những buổi ông Đô nói chuyện truyền thống mà họ thêm yêu màu áo lính, thêm trân trọng hoà bình hôm nay.
5. Thông điệp gửi thế hệ trẻ
Ở tuổi 61, mái đầu bạc trắng nhưng giọng ông vẫn đầy tự hào khi nhắc tới hai chữ “người lính”.
“Tôi chỉ mong thanh niên bây giờ biết quý trọng hòa bình, sống tử tế với nhau và yêu quê hương.
Chúng tôi chiến đấu không phải để kể công.
Chỉ mong đất nước mãi bình yên, để thế hệ sau không phải chứng kiến chiến tranh như chúng tôi.”


