CÂU CHUYỆN CỦA CHIẾN SĨ DU KÍCH ĐOÀN VĂN SƠN
CÂU CHUYỆN CỦA CHIẾN SĨ DU KÍCH ĐOÀN VĂN SƠN
(Người con Tam Anh – ký ức một thời hoa lửa)
Tôi tìm đến nhà bác Đoàn Văn Sơn vào một buổi chiều lặng gió. Ngôi nhà nhỏ nằm giữa vùng đất cát Tam Anh, nơi những triền cát nối dài với ruộng khoai, ruộng sắn và những hàng dương chắn gió. Bác đã ngoài bảy mươi tuổi, mái tóc bạc, dáng người gầy, nhưng ánh mắt vẫn sáng và nụ cười thì hiền hậu.
Bên góc nhà, cây đàn cũ được treo ngay ngắn. Bác vừa rót nước vừa nói:
“Già rồi, lâu lâu gảy vài tiếng… cho đỡ nhớ cái thời trước.”
Tôi mở sổ, xin bác kể lại những năm tháng làm du kích. Bác trầm ngâm một lúc, rồi bắt đầu.
“Tam Anh hồi đó nghèo lắm. Đất cát, trồng trọt khó, nhưng người thì thương nhau. Tui tham gia du kích năm hai mươi tuổi. Không ai ép, chỉ thấy đất mình vậy, không đứng ngoài được.”
Ban ngày, bác vẫn là người nông dân. Dắt trâu ra ruộng, cuốc đất trồng khoai, trồng sắn. Nhưng khi trời sụp tối, mọi thứ thay đổi.
“Đêm xuống là tụi tui hoạt động. Làm du kích là phải kín. Đi trong làng mà như không có mình, ở trong nhà dân mà địch không hay.”
Bác kể, ở Tam Anh thời đó, hầm bí mật là thứ quen thuộc.
“Nhà nào cũng đào hầm. Có hầm dưới bếp, có hầm sau vườn, có khi ngay dưới đống rơm. Cán bộ về là tụi tui giấu xuống đó. Có bữa nằm cả ngày, không dám cử động. Trên này người nhà vẫn nấu ăn, nói chuyện bình thường… mà dưới đó thì im re.”
Những nhiệm vụ của bác chủ yếu là liên lạc và dẫn đường.
“Đường đi toàn qua đất cát, qua mấy gò đồi thấp, có chỗ là bụi tre, có chỗ là ruộng bỏ hoang. Ban ngày không dám đi, chỉ đi ban đêm. Mà đêm ở đó yên tĩnh lắm… yên tới mức nghe được cả tiếng bước chân mình.”
Có lần, bác suýt bị phát hiện.
“Đang đi thì thấy ánh đèn phía trước. Biết là địch, tui lăn xuống một cái hố cát, nằm ép người xuống. Cát lạnh mà tim đập dữ lắm. Họ đi ngang qua, chỉ cần rọi xuống là thấy. Mà may sao không ai để ý.”
Bác cười nhẹ, rồi nói tiếp:
“Qua được rồi mới thấy mình còn sống.”
Không chỉ làm liên lạc, bác Sơn còn tham gia những trận đánh nhỏ.
“Có lần tụi tui đặt chông ở đoạn đường tụi nó hay đi. Làm trong đêm, tay run vì hồi hộp. Sáng nghe tin tụi nó dính, ai cũng mừng. Mấy chuyện nhỏ vậy thôi… nhưng làm tụi tui có thêm niềm tin.”
Nhưng chiến tranh không chỉ có niềm vui.
“Khổ nhất là thiếu ăn. Đất cát mà, trồng chi cũng khó. Có bữa chỉ có cơm với muối. Nhưng bà con thương lắm. Mấy o, mấy mẹ hay để dành khoai, sắn cho tụi tui. Có người còn canh chừng giùm, thấy động là báo.”
Tôi hỏi: “Có khi nào bác muốn bỏ cuộc không?”
Bác lắc đầu:
“Không nghĩ tới chuyện đó. Chỉ nghĩ đơn giản là phải làm cho xong việc.”
Rồi bác kể về một lần phải rút vào vùng gò đồi khi bị càn.
“Tụi tui đi mấy ngày liền, không có cơm, chỉ ăn rau dại. Đất cát nóng ban ngày, lạnh ban đêm. Có người mệt quá, tụi tui thay nhau dìu. Không ai bỏ ai.”
Giọng bác chậm lại:
“Có những người đi rồi không về nữa. Hôm trước còn nói chuyện, hôm sau đã mất. Nhớ lắm… mà không biết làm chi hơn.”
Căn nhà im lặng một lúc. Bác đưa tay cầm cây đàn, gảy vài tiếng trầm.
Âm thanh vang lên mộc mạc, như kéo ký ức quay về.
“Giờ già rồi, ngồi đây thôi. Nhưng mỗi lần cầm đàn, tui lại nhớ. Nhớ đất cát Tam Anh, nhớ ruộng khoai, nhớ anh em ngày trước.”
Bác nhìn tôi, ánh mắt hiền:
“Tui không phải anh hùng. Chỉ là người dân Tam Anh, làm cái việc mình phải làm.”
Tôi đứng dậy ra về, lòng nặng trĩu.
Phía sau tôi, tiếng đàn vẫn vang nhẹ trong căn nhà nhỏ.
Và tôi hiểu rằng:
Câu chuyện của bác Đoàn Văn Sơn không chỉ là ký ức cá nhân, mà là hình ảnh của cả một thế hệ – những con người sinh ra trên vùng đất cát khô cằn, nhưng đã sống một đời đầy nghĩa tình và can đảm.



