Câu chuyện của cựu dân quân du kích Nguyễn Văn Khải – xã Vân Bán
Tôi sinh ra và lớn lên ở xóm Gò Vầu, xã Vân Bán. Nếu như bao người lính xung phong vào chiến trường đánh Mỹ, thì tôi – một thằng trai làng khi ấy mới mười chín tuổi – lại ở lại quê hương, tham gia lực lượng dân quân du kích, làm nhiệm vụ mà nhiều người tưởng nhẹ, nhưng thật ra là đối mặt trực tiếp với giặc, ngay trên chính mảnh đất mình sinh ra. Mỗi khi kể lại, tôi vẫn nhớ như in tiếng gió đêm thổi qua bờ tre, tiếng mõ tuần phòng lóc cóc, và ánh mắt căm phẫn của người Vân Bán khi nghe tin làng này, làng kia bị địch rải bom phá hoại.
Năm 1967, xã tuyển quân cho lực lượng dân quân. Tôi xung phong. Bí thư đoàn khi đó vỗ vai tôi nói: "Ở chiến trường hay ở quê nhà cũng là chiến đấu. Mỗi người giữ một vị trí.” Chúng tôi – hơn hai chục thanh niên trai gái – được giao nhiệm vụ trực chiến, canh gác, bảo vệ kho trạm, đào hầm trú ẩn, dẫn đường cho bộ đội, ngụy trang cho các đoàn xe vận tải chạy qua địa bàn. Tưởng đơn giản, nhưng thực sự đó là những ngày cân não và dày đặc hiểm nguy.
Một trong những ký ức không bao giờ quên là đêm cuối tháng 9 năm 1969. Khi ấy, địch tăng cường biệt kích, thả toán gián điệp xuống các vùng trung du để phá hoại cầu đường, kho trạm. Tối đó, tổ du kích của tôi được lệnh mai phục ở bến đò cũ ven sông Lô – một điểm nghi có địch xâm nhập. Trời mưa lất phất, gió thổi hun hút, nước sông đen ngòm. Chúng tôi nấp sau những bụi tre, súng kíp đã nạp sẵn, chỉ chờ tín hiệu.
Khoảng gần 1 giờ sáng, tiếng mái chèo khẽ quẫy nước vang lên. Ai cũng nín thở. Đến khi chiếc thuyền lạ áp sát bờ, bóng người nhảy xuống, tôi nghe rõ tiếng trao đổi tiếng Việt pha tiếng lạ. Đội trưởng khẽ ra hiệu. Chúng tôi lao ra như cơn gió. Hai tên biệt kích bị khống chế ngay lập tức. Một tên cố bỏ chạy nhưng bị tôi và anh Tự đuổi kịp. Đó là lần đầu tiên tôi đối mặt trực diện với kẻ địch, tim đập muốn vỡ cả lồng ngực. Sau trận ấy, huyện khen thưởng cả tổ du kích Vân Bán vì góp phần phá tan âm mưu phá hoại cầu Vân Hội.
Đến năm 1971, xã được giao nhiệm vụ bảo vệ một kho quân khí tạm đặt trong rừng vầu giáp ranh hai xã. Địch phát hiện tuyến vận chuyển qua đây nên ngày đêm bắn phá. Có lần, bom nổ cách kho chưa đầy 400 mét, nhà cửa trong thôn rung bần bật. Chúng tôi – du kích – chia nhau túc trực 24/24. Đêm ngủ hầm, ngày ngụy trang. Mắt lúc nào cũng dán lên các lối mòn đề phòng gián điệp.
Tôi nhớ mãi một đêm mưa lớn, kho bị sạt, nguy cơ nổ tung bất cứ lúc nào. Không kịp chờ bộ đội, cả trung đội dân quân tự chia nhau xếp bao đất, dùng xà beng chống lại dòng nước đất đang tràn xuống. Đất đá cuốn trượt dưới chân, tay ai cũng rớm máu. Nhưng nhờ vậy, kho quân khí an toàn tuyệt đối. Huyện về kiểm tra, chỉ nói một câu: “Dân quân Vân Bán làm việc bằng cả tấm lòng với Tổ quốc.” Câu nói ấy đến giờ tôi vẫn nhớ.
Khi đất nước hòa bình 1975, nhiều người lính trở về trong vòng tay người thân. Còn chúng tôi – những du kích ở lại quê hương – tiếp tục dẹp bom mìn, lấp hố bom, dựng lại các xóm làng, khôi phục đồng ruộng bị tàn phá. Có người hỏi: “Ông có tiếc quãng thanh xuân không?” Tôi chỉ cười.
Tiếc làm sao được, khi đất nước được độc lập, khi xã Vân Bán có thể bình yên, người dân có thể cày cấy, con trẻ lại ríu rít đến trường. Chúng tôi chỉ là những người lính vô danh, không vào chiến trường xa, nhưng đã góp sức mình giữ gìn sự sống cho quê hương ngay trong những năm tháng cam go nhất.
Mỗi lần nhìn thanh niên Vân Bán khoác áo Đoàn màu xanh, tham gia những phong trào mới, lòng tôi lại ấm lên. Tôi chỉ mong các cháu hiểu rằng: Hòa bình hôm nay được xây bằng xương máu, nhưng cũng bằng sự bền bỉ của những người dân quê bình dị – những người đã đứng lên bảo vệ từng con đường, từng mái nhà.


