Câu chuyện của liệt sĩ "Nguyễn Văn Tuấn"
Năm tháng cứ thế trôi đi, guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại đôi khi khiến người ta quên mất rằng, để có được một bầu trời bình yên, một góc phố rợp bóng mát và những tiếng cười vang vọng trong các lớp học hôm nay, dân tộc ta đã phải trải qua những trang sử đẫm máu và hoa. Khi Đoàn trường phát động phong trào viết về “Câu chuyện thời hoa lửa” để tri ân các thế hệ đi trước, tôi đã nghĩ rất lâu. Giữa biết bao tượng đài anh hùng lừng lẫy trong sách sử, tôi lại chọn viết về một nốt trầm đau thương nhưng vô cùng tự hào của chính gia đình mình – liệt sĩ Nguyễn Văn Tuấn, người bác ruột mà tôi chỉ được nhìn thấy qua khung ảnh đã ngả màu thời gian và qua những câu chuyện kể nghẹn ngào của bà.
Trong gian phòng khách nhỏ, di ảnh của bác Tuấn luôn được đặt ở vị trí trang trọng và ấm cúng nhất. Trong bức hình chụp từ những năm tháng thanh xuân rực rỡ, bác hiện lên với gương mặt chữ điền góc cạnh, đôi mắt sáng quắc đầy kiên nghị và nụ cười tươi tắn trong bộ quân phục chiến sĩ còn thơm mùi vải mới. Bác sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo, nơi cái đói cái nghèo luôn bủa vây nhưng tình yêu đất nước thì chưa bao giờ nguội lạnh. Năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên mười tám tuổi Nguyễn Văn Tuấn đã gác lại bút nghiên, xếp lại những dự định dở dang của tuổi trẻ để viết đơn tình nguyện lên đường ra trận.
Ngày bác lên đường, làng xóm rộn rã tiếng cười nhưng sâu thẳm trong đôi mắt những người thân là nỗi lo âu vô hạn. Bà nội tôi ôm chặt đứa con trai út vào lòng, bàn tay chai sần run rẩy vuốt ve vạt áo lính còn rộng thênh thang, nghẹn ngào dặn dò: "Con đi chân cứng đá mềm, hoàn thành nhiệm vụ rồi về với gia đình nghe con". Bác chỉ cười hiền, gật đầu chào mọi người rồi bước đi vào đội hình quân ngũ. Từ mái nhà tranh nghèo khó ấy, bác bước thẳng vào chiến trường miền Nam khốc liệt, hòa mình vào biển người ào ạt ra trận với một niềm tin mãnh liệt ngày thống nhất giang sơn.
Những năm tháng ở chiến trường Quảng Trị là một bản hùng ca bi tráng mà sau này, qua những lời kể đứt quãng của các cựu chiến binh từng là đồng đội của bác, chúng tôi mới hình dung được phần nào sự khốc liệt. Đó là những cung đường hành quân ngập bùn lầy và bom đạn, những bữa cơm vắt qua ngày với muối rang, và những trận sốt rét rừng hành hạ đến kiệt sức. Thế nhưng, chưa một phút giây nào ý chí của người lính trẻ ấy bị chùng xuống. Bác luôn xung phong nhận những nhiệm vụ nguy hiểm nhất, kề vai sát cánh cùng đồng đội đối mặt với lằn ranh sinh tử.
Thế nhưng, sự tàn khốc của chiến tranh đã không dung tha cho những ước mơ đẹp đẽ nhất. Mùa khô năm 1974, trong một trận giao tranh vô cùng ác liệt nhằm giữ vững từng tấc đất quê hương ở mặt trận phía Nam, bác đã anh dũng hy sinh. Khi ấy, bác vừa tròn đôi mươi – cái tuổi đẹp nhất của một đời người, tuổi biết yêu thương, biết khát khao và cống hiến. Tin báo tử về đến nhà như sét đánh ngang tai, bà nội tôi ngất lịm đi, nước mắt cạn khô theo những đêm dài mòn mỏi ngóng trông. Sự ra đi của bác để lại một khoảng trống lớn lao, một nỗi đau âm ỉ theo suốt chiều dài cuộc đời của những người ở lại.
Đau đớn hơn cả là cho đến tận bây giờ, thi hài của bác vẫn nằm lại đâu đó trên chiến trường xưa, chưa thể tìm thấy để đưa về lòng đất mẹ. Mỗi dịp giỗ chạp hay lễ Tết, nhìn bà thắp nén nhang hướng về bàn thờ bác, giọt nước mắt già nua lăn dài trên gò má nhăn nheo, lòng tôi lại quặn thắt lại. Bác không có một ngôi mộ chí với khói hương tươm tất ở nghĩa trang quê nhà, nhưng sự hy sinh thầm lặng ấy đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất nước này.
Chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng, đất nước hôm nay đang từng ngày thay da đổi thịt. Đứng trên mảnh đất quê hương thanh bình, ngắm nhìn những cánh đồng lúa xanh mướt, những ngôi trường mới khang trang và những gương mặt trẻ thơ đang vui đùa hồn nhiên, tôi càng thấu hiểu sâu sắc cái giá của hai chữ "hòa bình". Hòa bình ấy không phải tự nhiên mà có; nó được đánh đổi bằng máu, bằng mồ hôi và tuổi thanh xuân của hàng triệu người con ưu tú như bác Tuấn.
Khi hoàn thành bài viết này để gửi về cho cô Nhung theo sự phân công của Đoàn trường, trong tôi dâng lên một niềm xúc động và lòng biết ơn vô hạn. Thế hệ chúng tôi hôm nay thật may mắn khi được sinh ra và lớn lên trong thời bình, không phải nghe tiếng bom gầm đạn réo. Nhưng chính vì thế, chúng ta càng không được phép lãng quên quá khứ. Nhìn lại tấm gương hy sinh oanh liệt của liệt sĩ Nguyễn Văn Tuấn, tôi tự hứa với lòng mình sẽ luôn sống có trách nhiệm, không ngừng nỗ lực trong học tập và rèn luyện, sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh. Ngọn lửa của "thời hoa lửa" năm xưa sẽ mãi mãi là ngọn đuốc sáng ngời, soi đường cho tuổi trẻ chúng tôi vững bước đi lên trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh.



