Bài viết

CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI LÍNH GIÀ

Hưng Yên30/12/2025Lê Mai Phương (học sinh lớp 6B, trường TH&THCS Thành Công, xã Chí Minh, tỉnh Hưng Yên.)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bác tôi về hưu đã lâu, suốt 10 năm cuối đời của ông ngoại tôi, một mình bác chăm sóc, tắm rửa cho ông. Bác có năm người con trai nhưng hình như các anh không ai biết thời chiến tranh bác tôi huân chương đỏ ngực, giấy chứng nhận dũng sỹ phồng túi áo. Thỉnh thoảng bác tôi vừa làm việc nhà vừa kể chuyện, còn tôi loanh quanh đi theo lắng nghe.
Năm 1972, quân đội Sài Gòn bắt đầu phản công từ sông Mỹ Chánh và từng bước đầy lùi quân ta về thị xã Quảng Trị. Vào thời điểm đó, các đơn vị đã bắt đầu cạn lực lượng dự bị. Chiến trường cần lực lượng bổ sung gấp và Miền Bắc bắt đầu động viên tới sinh viên các trường đại học và công nhân trong các ngành quan trọng vốn được miễn nghĩa vụ quân sự. Bác tôi nhận tân binh ở Sơn Tây. Tất cả đều trẻ măng, đa phần là người thành phố, tốt nghiệp cấp 3 và rất nhiều sinh viên đại học. Mỗi người phải mang 40 kg bao gồm quân trang, vũ khí, toàn bộ cơ số đạn chiến đấu và dự trữ. Lệnh trên xuống là trong mọi trường hợp không được bỏ người lại, người nào ốm thì phải cáng mang theo. Lương thực, quân trang thì có thể vứt lại nhưng vũ khí và đạn dược thì tuyệt đối không. Người nào không đủ sức mang thì phải san sẻ cho toàn đơn vị. Hầu hết số tân binh đều chưa quen vác nặng đi đường trường, ngoài ra, vì thời gian huấn luyện ngắn, các đơn vị khung ngoài Bắc chỉ kịp huấn luyện cho họ những kiến thức cơ bản nhất. Mọi kinh nghiệm chiến đấu còn lại sẽ được cán bộ khung từ chiến trường ra dạy họ trên đường vào Nam. Chỉ hơn một tuần sau khi rời khỏi Sơn Tây đã có khoảng 10% số tân binh phải cáng. Có nhiều người đơn giản không thể đi được vì toàn bộ bàn chân bị phồng rộp. Lương thực có thể bỏ lại nhưng súng đạn thì phải mang theo. Mỗi chặng dừng chân, tân binh nằm vật ra như ngất, có người gục mặt vào ba-lô khóc, có người đờ đẫn phải được xốc nách hai bên mới đứng dậy hành quân tiếp được. Cuối mỗi ngày, tân binh dừng chân nhưng không được nghỉ ngay vì cán bộ khung phải dạy họ những kiến thức tối thiểu để sống sót trên chiến trường. Đói đến hoa mắt, mệt đến mê muội, nhiều tân binh gần như không thể nghe được nữa hoặc bùng nổ phản kháng. Bác tôi kể, các cán bộ khung hầu hết là cán bộ chiến đấu lâu năm. Hầu hết trong số họ đều xuất thân từ nông thôn, đã đánh nhiều trận, đã chôn nhiều bè bạn, nên mỗi người trong họ là một kho kinh nghiệm chiến đấu. Điểm yếu của họ là họ không có trình độ văn hoá bằng những người lính mà họ huấn luyện. Những người lính sinh viên, được học hành tử tế, có lý luận và thường xuyên vặn vẹo mọi lời của những người lính cựu. Mâu thuẫn nhiều khi không được giải toả và chỉ có thể được dập tắt bằng kỷ luật quân đội. Có một lần, dưới một chân dốc ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, bác tôi nhìn thấy hai người lính trẻ măng chệnh choạng, mặt mờ đi, mặt xám ngoét cáng một người lính với nước da xanh mướt. Người lính nằm trên cáng mặt trắng bệch vì sốt nhưng vẫn ôm khư khư chiếc ba-lô to tướng. Bác tôi dừng cáng lại và lục tung ba lô của họ vứt lại những thứ không cần thiết. Khi lục đến ba lô của người lính được cáng, bác tôi thấy một mớ từ điển Nga-Việt phổ thông, thơ Puskin và các sách văn học khác. Bác vứt không thương tiếc những cuốn sách đó bên vệ đường mòn. Người lính đang nằm, mặt trắng bệch, rít lên qua kẽ răng “không được vứt sách của tôi, đó là từ điển Nga – Việt, tôi là sinh viên hiểu chưa?” Bác tôi nhìn người lính và trả lời “thì sao, bạn anh không cáng được những thứ này vào tới chiến trường, hiểu chưa?”. Người bệnh binh ứa nước mắt, quay mặt về phía khác và nói đủ để bác tôi nghe rõ “đồ… đồ ít học… đồ… đồ vô văn hoá!” Bác tôi sững lại nhìn người lính, rồi đưa cho anh cuốn từ điển Nga Việt. Bác nói một câu bằng tiếng Nga. Người lính ớ ra, nhìn bác không hiểu. Bác tôi nói lại bằng tiếng Việt “mở từ điển ra, đọc cho tao mười từ bất kỳ bằng tiếng Việt! Đọc đi!” Người lính đọc mười từ, và bác tôi đọc mười từ tiếng Nga tương ứng. Đọc xong, bác tôi cầm cuốn từ điển quăng mạnh ra xa và nói “Nếu muốn tra từ tiếng Nga thì mày có thể hỏi tao. Còn từ giờ đến khi vào tới chiến trường thì cố mà học được cách để chiến đấu!” Những người lính sinh viên nhiều khi có ác cảm với các cán bộ nói giọng miền Trung như bác tôi vì cho rằng họ ít học và giáo điều. Các tân binh không biết rằng bác tôi từng học ở Nga và là giảng viên đại học bách khoa trước khi nhập ngũ. Bác tôi nói, những người lính cựu có trong người phản xạ sinh tồn, đôi khi chỉ cần nghe tiếng nổ đầu nòng của M79 là họ đã lăn tròn khỏi chỗ đang đứng cả mét. Những người lính mới không có phản xạ đó, và nhiều khi vì không nghe những người lính nông dân quê kệch, những tân binh phải trả giá bằng máu cho mỗi bài học.
Khi tôi kể cho bác nghe về một câu chuyện trên báo Thanh Niên, trong đó người liệt sỹ đêm trước khi hy sinh đã viết cho vợ chưa cưới chỉ dẫn rõ nơi anh sẽ nằm xuống để sau này hoà bình lập lại mà tìm. Bài báo viết rằng đó là một dự cảm huyền bí, kỳ lạ của người nằm xuống. Bác tôi cười mếu máo “con ơi, có gì lạ đâu, chỗ đó là bến đáp của thành cổ, hết lớp này đến lớp khác hy sinh nơi đó, có gì là lạ đâu!”. Bác là người lính, những con đường ra trận của bác thấy toàn máu, kiệt lực, mồ hôi và nước mắt. Dù như thế, chúng ta vẫn cứ đi vì không có con đường nào khác. Đến giờ, bác chỉ tiếc rằng ngày đó bác không rèn được quân nghiêm hơn nữa. Nếu thế, chắc các bác không phải khóc “ngày ấy chúng mày chết nhiều quá, có oán bố không?” và chắc nhiều đứa giờ này vẫn còn sống."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI LÍNH GIÀ | Câu chuyện thời hoa lửa