Câu chuyện của nội tôi
câu chuyện của nội tôi
Ngày ấy, khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, làng Hố Tre vẫn cố níu giữ chút yên bình hiếm hoi. Ông nội tôi, khi ấy chỉ mới ngoài đôi mươi, sống cùng cha mẹ và em gái út trong căn nhà tranh nằm sát mé đồng. Công việc thường ngày của người dân làng lúc ấy vẫn xoay quanh ruộng lúa, bãi ngô và những luống khoai chạy dài ven sườn đồi. Sáng sáng, khi mặt trời chưa kịp rọi xuống, cả làng đã vang tiếng gọi nhau ra đồng, kẻ vác cuốc, người kéo trâu. Cuộc sống tuy kham khổ, nhưng người dân vẫn thương nhau như ruột thịt. Lúc rảnh rỗi sau buổi làm đồng, đàn ông ngồi vá lại cái bừa, sửa lưỡi cuốc, đàn bà thì tước lá chuối phơi làm gói bánh, bọn trẻ bám chân người lớn đòi uống nước dừa hay xin mẩu khoai nướng còn nóng. Trong căn bếp nhỏ, lửa rơm cháy rực, khói vương mùi thơm ngai ngái. Ông nội kể, dù sống trong cảnh thiếu thốn, nhưng lòng người vẫn đầy ắp yêu thương. Tối đến, cả nhà quây quần bên mâm cơm đạm bạc, chỉ rau muống luộc, cá khô kho mặn và bát canh cua đồng cũng đủ làm bữa cơm sum vầy. Thế nhưng bình yên ấy chỉ kéo dài cho đến khi quân Pháp kéo đến. Đợt càn đầu tiên diễn ra vào một buổi trưa oi nắng. Những tiếng súng nổ xa rồi gần, tiếng giày đinh dập mạnh xuống đường đất, tiếng quát tháo dồn dập khiến mọi người hoảng loạn. Bọn lính đi từ đầu làng đến cuối làng, phá cửa từng nhà, lục đồ đạc, gom hết gạo thóc và tài sản. Chúng đốt rơm, xé chiếu, giẫm đạp lên những chum nước vừa mới gánh từ giếng về. Những mái nhà tranh bốc cháy như đuốc. Người dân hoảng hốt, kéo nhau chạy lên núi, chui vào rặng tre hoặc trốn trong hầm bí mật đã đào sẵn. Ông nội khi ấy đang dở tay cày, nghe tiếng súng bèn bỏ cả trâu mà chạy. Khi trở lại, cả sân nhà đã bị xới tung, thóc bị vung vãi khắp mặt đất, chiếc giường tre bị chặt gãy chân, căn bếp bốc khói khét lẹt. Sau đợt càn, mọi người lại quay về sửa lại nhà cửa, nhặt từng hạt thóc vãi ngoài sân. Người già an ủi người trẻ: “Mất rồi lại có, ruộng đất còn đây, dân mình còn thì nhà vẫn còn.” Nhưng chưa kịp yên thì quân Pháp lại đổ về, lúc ban ngày, lúc nửa đêm. Chúng chĩa súng, quát tháo, buộc dân đưa tiền, đưa gạo, dọa bắn nếu không khai ra nơi du kích trú. Một đêm kia, trăng mờ, tiếng chó sủa vang lên ở đầu xóm. Rồi tiếng súng nổ loạt một khiến tất cả bật dậy. Bọn lính Pháp bao vây làng, lùng sục từng nóc nhà. Chúng xô ngã tường đất, phá cửa, lôi đàn ông trẻ tuổi trói lại giữa sân đình. Một nhà ở cuối xóm bị đốt rụi vì bị nghi chứa cơm cho bộ đội. Bà mẹ ôm con khóc khàn tiếng, người cha bị đánh đến bật máu. Ông nội kể, chứng kiến cảnh ấy, lòng ông như có ngọn lửa phừng phừng. Không chỉ riêng ông, cả làng đều căm hờn. Người dân không còn sợ hãi nữa, sự phẫn nộ như dồn nén trong từng ánh mắt. Hễ nói chuyện với nhau, ai cũng nghĩ đến ngày phản kháng. Tháng sau, quân Pháp quay lại với một toán lính đông hơn. Chúng đốt kho thóc chung của làng, thứ mà người dân dành dụm cho mùa giáp hạt. Những ngọn lửa đỏ như liếm vào ruột mỗi người. Trẻ con khóc nức nở vì đói, người già run rẩy vì không biết mai ăn gì. Đêm đó, hầu như cả làng thức trắng. Sau hôm ấy, các thanh niên trai tráng kéo nhau lên rừng tìm du kích, xin gia nhập đội kháng chiến. Ông nội tôi đi theo họ, chỉ kịp để lại mảnh giấy nhỏ cho bà cố: “Đi đánh giặc. Khi nào yên sẽ về.” Mảnh giấy ấy bà cố gói lại trong túi áo, giữ như báu vật. Trong rừng, ông nội và đồng đội dựng lán bằng lá rừng, đào hầm, gùi từng bao gạo mà dân làng gửi theo đường bí mật. Ban đêm, họ xuống núi, rải truyền đơn, rút đinh ốc đường sắt, gài bẫy trên đường quân Pháp đi tuần. Có lần, ông cùng dân quân lẻn về làng phá kho quân nhu. Đêm đó, khi kho phát nổ, tiếng nổ vang rền như một lời tuyên bố: “Làng này không khuất phục!” Tin ấy lan đi, người dân phấn khởi. Làng tuy bị tàn phá bao lần, nhưng vẫn sống, vẫn gieo lúa, trồng khoai, nuôi giấu bộ đội. Mỗi lần quân Pháp càn quét, người làng lại tản vào rừng, rồi trở về dựng lại nhà cửa, như cây lúa bị dẫm nát rồi lại bật mầm. Một lần khác, quân Pháp kéo đến rất đông. Chúng dựng hàng rào, lập trạm kiểm soát, bắt người dân cày cuốc cho chúng. Ông nội tôi nghe tin ấy, cùng đội du kích ban đêm vượt đèo trở về. Trong đêm tối, đội du kích phục kích, đánh bật một toán lính ở đầu làng, buộc chúng phải rút chạy. Cuối đợt ấy, dân làng kéo ra đình thắp hương, cầu cho ruộng đồng yên ổn. Bà cố đứng trong đám đông, nước mắt lưng tròng vì thấy ông nội còn sống. Sau ngày hòa bình lập lại, làng Hố Tre chỉ còn lại nền đất cháy đen và những khu vườn xơ xác. Nhưng người dân dựng lại làng, trồng lại lúa, xây nhà mới bằng gạch thay mái tranh. Ông nội trở về, vai vẫn còn vết sẹo chiến trận, nhưng ánh mắt thì rạng ngời. Ông kể rằng chiến tranh tàn khốc, nhưng cũng chính từ đó mà tình yêu quê hương trở nên sâu sắc nhất.Câu chuyện làng Hố Tre và những đợt càn quét ấy không còn ai nhắc nhiều, nhưng mỗi khi nghe ông kể, tôi lại thấy như mình đang sống trong buổi chiều đầy khói rơm ấy. Nơi người dân tay lấm chân bùn nhưng trái tim không bao giờ khuất phục, nơi những ngọn lửa chiến tranh đã từng thiêu rụi tất cả, nhưng không thể thiêu rụi ý chí và lòng tự hào của họ.



