Câu chuyện Cựu chiến binh Trần Ngọc Long
Trong một lần trò chuyện cùng các cháu, tôi nhớ có đứa tò mò hỏi:
– Hồi đi bộ đội, chú có từng trực tiếp đánh nhau với lính Mỹ không?
Tôi mỉm cười rồi kể:
– Có chứ! Chú sẽ kể cho các cháu nghe một trận đánh Mỹ trên đất Tam Bình mà đến bây giờ chú vẫn còn nhớ như in.
Đó là thời gian sau Tết Mậu Thân năm 1968, khi quân Mỹ bắt đầu mở nhiều cuộc phản công, tổ chức các đợt hành quân càn quét vào vùng giải phóng ở Vĩnh Long.
Khoảng 8 giờ sáng một ngày tại khu vực xã Hậu Lộc và Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, những chiếc máy bay khu trục Mỹ bất ngờ xuất hiện, trút bom dữ dội xuống khu vườn ở Rạch Gỗ. Sau đợt ném bom, nhiều trực thăng vũ trang tiếp tục bay đến, bắn rocket và đại liên dọn bãi. Khi khói lửa còn chưa tan, hơn chục chiếc trực thăng chở quân lần lượt hạ cánh xuống cánh đồng.
Lính Mỹ vừa tiếp đất đã vừa bắn vừa chạy vào chiếm các chân vườn. Trên đầu chúng, những chiếc trực thăng vũ trang bay thấp, quần đảo liên tục, dùng đại liên yểm trợ và mở đường cho bộ binh tiến sâu vào khu vực càn quét. Để tránh bị trực thăng bắn nhầm, chúng thường ném các quả khói màu đánh dấu vị trí.
Suốt buổi sáng hôm đó, quân Mỹ hầu như không gặp sự kháng cự trực diện nào từ lực lượng ta. Thỉnh thoảng chỉ vang lên vài tiếng nổ của lựu đạn gài khi chúng chặt vườn, mở đường tiến quân. Sau mỗi tiếng nổ, một lúc sau lại có trực thăng cứu thương đến đưa những tên lính bị thương hoặc thiệt mạng ra khỏi trận địa.
Tôi còn nghe nhiều tiếng nổ lạ của thuốc khối. Sau này mới biết đó là loại thuốc nổ vỏ giấy mà quân Mỹ sử dụng để phá hủy các công sự gặp trên đường hành quân.
Khi chuẩn bị vượt sông Cái Ngang sang xã Mỹ Lộc, chúng huy động hỏa lực rất mạnh. Trước tiên là pháo 105 ly từ Tam Bình bắn dồn dập vào các dãy vườn bên kia sông. Tiếp đó, trực thăng chiến đấu phóng rocket xuống các mục tiêu nghi ngờ. Dưới sông, các giang thuyền và tàu chiến nhỏ chở quân từ hướng Ba Kè tiến vào, vừa cơ động vừa bắn dữ dội lên bờ. Trên không, trực thăng tiếp tục quần đảo yểm trợ cho bộ binh vượt sông.
Lúc ấy đơn vị của chú đóng quân cách khu vực càn quét khoảng 500 mét nên chưa bị ảnh hưởng trực tiếp.
Đến tối, tôi cùng ba đồng đội được giao nhiệm vụ bí mật bám theo đội hình địch để xác định xem chúng có đóng quân lại khu vực chợ Cái Ngang hay không. Nếu phát hiện chúng cắm quân, đơn vị sẽ dùng hai khẩu cối 82 ly tập kích.
Các anh chỉ huy dặn rất kỹ: chỉ được tiếp cận đến bờ đai quanh chợ, sau đó dùng AK và B40 bắn thăm dò rồi rút ngay, tuyệt đối không được xâm nhập sâu hơn.
Chúng tôi làm đúng như kế hoạch. Sau khi bắn vài băng đạn AK và ba quả B40 về phía nền chợ – nơi nghi ngờ quân Mỹ đang trú quân – cả khu vực vẫn im lặng, không có một phát súng nào bắn trả. Chúng tôi lập tức rút lui về báo cáo tình hình, đơn vị cối cũng theo đó rút quân.
Chiều hôm sau, khi quay lại khu vực nền chợ Cái Ngang, tôi mới phát hiện rất nhiều hố chiến đấu cá nhân do lính Mỹ đào trên khoảng đất trống. Những hố này chỉ cách vị trí chúng tôi tiếp cận đêm trước khoảng năm chục mét. Trong nhiều hố còn vương lại băng bông dính máu.
Tôi thầm nghĩ: “Bọn Mỹ ém quân thật kín đáo nên không để lộ vị trí. Nếu tối qua chúng nổ súng đáp trả, chắc chắn hàng chục quả đạn cối 82 ly đã dội xuống nơi chúng trú quân. Mà nếu tình huống đó xảy ra, chưa chắc anh em mình đã rút lui an toàn.”
Nghe xong câu chuyện, một đứa cháu lại hỏi:
– Chú kể thêm cho chúng cháu nghe về bom tấn, pháo bầy và chất độc da cam mà quân đội Mỹ sử dụng ở chiến trường miền Nam được không?
Tôi gật đầu:
– Những thứ đó mới thực sự là nỗi ám ảnh của chiến tranh.
Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng một khối lượng bom đạn khổng lồ. Trong ký ức của chú, đáng sợ nhất là những trận “bom lén” hay còn gọi là bom tọa độ được thả vào ban đêm.
Cuối năm 1968, đang ngủ giữa đêm thì nghe tiếng động cơ máy bay C-130 vọng trên đầu. Chỉ vài giây sau là tiếng bom lao xuống với âm thanh rít dài, rồi một tiếng nổ long trời lở đất làm mọi người giật mình bật dậy. Hôm sau mới biết quân Mỹ vừa thả một quả bom tấn xuống vàm Cai Hóa, cách nơi đơn vị đóng quân khoảng ba cây số.
Khi đi ngang khu vực ấy, tôi tận mắt nhìn thấy một hố bom khổng lồ, cây cối trong cả vùng rộng lớn bị quật ngã, mặt đất bị cày xới tan hoang.
Đáng sợ hơn nữa là những trận ném bom B-52. Mỗi chiếc B-52 có thể mang hàng chục tấn bom. Khi ba chiếc bay theo đội hình ném bom rải thảm, cả một khu vực rộng lớn lập tức biến thành biển lửa. Hố bom san sát nhau, sức hủy diệt vô cùng khủng khiếp.
Tháng 4 năm 1968, trong một trận B-52 rải thảm ở Long Công, xã Mỹ Lộc, công sự của tôi nằm đúng giữa hai hố bom. Chỉ cần lệch một chút thôi là có thể không còn cơ hội sống sót.
Ngoài không quân, pháo binh Mỹ và quân đội Sài Gòn cũng thường xuyên sử dụng chiến thuật “pháo bầy”. Nhiều khẩu pháo cùng lúc tập trung bắn dồn dập vào một mục tiêu. Có những đợt chỉ trong vài phút, hàng chục quả đạn pháo liên tiếp rơi xuống trận địa.
Trong trận phòng ngự kéo dài năm ngày đêm ở xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, đơn vị tôi từng hứng chịu những đợt pháo bầy dữ dội. Cây cối bị đánh gãy đổ, đất bùn tung lên phủ kín mặt trận. Tưởng như không còn sự sống nào tồn tại. Thế nhưng khi bộ binh địch tràn lên, anh em từ trong công sự bất ngờ bật dậy chiến đấu, buộc chúng phải tháo chạy.
Tôi cũng không thể quên lần đơn vị đóng quân ở xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn. Chúng tôi vừa rời chân vườn được khoảng 200 mét thì pháo bầy từ Chi khu Trà Ôn bắt đầu bắn dồn dập vào đúng vị trí vừa rời đi. Nằm ép sát xuống bờ ruộng nhỏ, tôi nghe tiếng mảnh pháo 105 ly xé gió vèo vèo trên đầu, nhiều mảnh cắm xuống đất sát bên người.
Nhưng ám ảnh nhất vẫn là chất độc da cam.
Trong giai đoạn 1961–1971, quân đội Mỹ đã rải hàng chục triệu lít chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam. Tôi từng hai lần bị máy bay phun hóa chất trực tiếp vào người.
Lần đầu vào năm 1968, khi đang di chuyển ở xã Mỹ Lộc, máy bay C-123 bay qua và phun hóa chất khiến quần áo, da thịt tôi ướt lấm tấm. Lần thứ hai là năm 1969 tại Gò Cà, xã Nhị Long, huyện Càng Long.
Thứ hóa chất ấy nhớt nhợt, bám chặt vào quần áo, rất khó giặt sạch. Khi dính vào người phải kỳ cọ rất lâu mới hết.
Điều khiến tôi kinh ngạc là tác động của nó lên cây cối. Những buồng chuối vừa trổ bị phun hóa chất chỉ sau một ngày đã xuất hiện những trái dài bất thường nhưng bên trong hoàn toàn rỗng ruột. Cây chuối vươn cao rồi vàng lá, đổ rạp. Cỏ cây, môn nước cũng phát triển dị dạng trước khi úa vàng và chết dần. Cả những khu rừng xanh tốt cũng nhanh chóng trơ trụi lá rồi lụi tàn.
Khoảng nửa tháng sau, máy bay phản lực lại tiếp tục thả bom phốt pho. Những chùm lửa bùng cháy giữa không trung rồi rơi xuống thiêu rụi cây cối, nhà cửa. Đây là loại bom cực kỳ nguy hiểm vì có khả năng cháy dữ dội và rất khó dập tắt.
Cùng với đó là bom Napalm – loại bom gây cháy có nhiệt độ cực cao, đủ sức thiêu rụi cây cối, công trình và gây thương tích nặng nề cho con người. Quân Mỹ thường sử dụng loại bom này để đốt phá thảm thực vật và phát quang địa hình trước các cuộc hành quân.
Đó là những gì chú đã tận mắt chứng kiến và trải qua trong những năm tháng chiến tranh. Những ký ức ấy đến nay vẫn còn nguyên trong tâm trí, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình và sự hy sinh to lớn của biết bao người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc.


