Câu chuyện cựu chiến binh Vũ Ngọc Thành
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – NGƯỜI LÍNH VŨ NGỌC THÀNH VÀ NGÔI MỘ MANG TÊN MÌNH
Có những câu chuyện chiến tranh mà chỉ cần nghe một lần cũng khiến người ta nhớ mãi. Với em, câu chuyện của cựu chiến binh, thương binh Vũ Ngọc Thành, người quê ở thôn Đồng Minh, xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, là một câu chuyện như thế. Ông sinh năm 1953, từng là người lính của Trung đội 2, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, trực tiếp chiến đấu trong một trận đánh vô cùng ác liệt bên cầu Quảng Trị, nay là cầu Thạch Hãn. Những thông tin về cuộc đời ông được nhiều cơ quan báo chí ghi lại, đặc biệt là câu chuyện ông trở lại chiến trường xưa và bất ngờ nhìn thấy chính tên mình trên một ngôi mộ liệt sĩ.
Khi còn rất trẻ, ông Thành lên đường chiến đấu và bước vào cuộc chiến với hành trang giản dị của một người lính. Đêm 9/4/1972, Trung đội 2 gồm 20 chiến sĩ được giao nhiệm vụ mang theo khoảng 100kg bộc phá, tổ chức thọc sâu để đánh sập cầu Quảng Trị, qua đó chia cắt đường tiếp viện của đối phương. Nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm bởi lực lượng địch đông và có xe tăng yểm trợ. Hai mươi người lính dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Mai Quốc Ca đã chiến đấu từ rạng sáng đến quá trưa. Từng người một ngã xuống. Sau cùng, chỉ còn Vũ Ngọc Thành sống sót, nhưng ông cũng bị thương rất nặng ở bụng và chân.
Em đọc đến đây và tự hỏi, nếu khi ấy mình đứng giữa một trận chiến như vậy thì sẽ có cảm giác thế nào? Chúng em hôm nay thường được nghe về chiến tranh qua sách giáo khoa, qua những bức ảnh cũ hay những thước phim. Nhưng với ông Thành, đó là những ngày tháng có thật, nơi những người bạn cùng tuổi mình ngày hôm trước còn trò chuyện, chia nhau từng phần lương khô, hôm sau có thể đã nằm lại giữa chiến trường. Trong cuộc chiến ấy, 19 người đồng đội của ông lần lượt hy sinh. Ông bị thương nặng, nhưng vẫn cố gắng sống. Sau khi phát hiện ông còn thoi thóp, đối phương đưa ông đi chữa trị, rồi qua nhiều nơi giam giữ khác nhau trước khi ông bị đưa ra nhà lao Phú Quốc.
Điều khiến em xúc động hơn nữa là sau chiến tranh, ông không hề quên những người đã nằm lại bên mình. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, ông được trao trả. Trong khi đó, ở quê nhà, gia đình ông đã nhận giấy báo tử. Người mẹ khi ấy đã mang trên đầu khăn tang người chồng vừa mất, lại tiếp tục nhận tin người con trai duy nhất hy sinh. Nhưng rồi điều kỳ diệu đã xảy ra: người con tưởng như đã chết ấy thực sự trở về. Ngày ông Thành vác ba lô về làng, cả quê hương vui mừng như đón một người từ cõi chết trở lại.
Thế nhưng, trở về với quê hương không có nghĩa là chiến tranh đã chấm dứt trong tâm hồn người lính. Những người đồng đội của ông vẫn luôn hiện diện trong ký ức. Những gương mặt từng cùng ông chia lửa, những người đã hy sinh ngay bên cạnh ông vẫn là những câu hỏi không lời đáp. Vì thế, nhiều năm sau, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn và mang trên mình thương tật, ông vẫn ấp ủ mong muốn được trở lại chiến trường xưa. Đến tháng 6/1996, ông cùng thân nhân của các đồng đội trở về Quảng Trị. Ông đi qua những địa điểm từng chiến đấu, rồi tìm đến nghĩa trang nơi đồng đội được quy tập.
Và rồi, trong khoảnh khắc tưởng như không thể xảy ra, ông nhìn thấy một ngôi mộ mang chính tên mình. Tên của ông đã được khắc trên bia mộ giữa những người đồng đội đã hy sinh. Một người đang sống lại đứng trước “mộ” của chính mình. Em nghĩ đó là một trong những khoảnh khắc kỳ lạ và đau đớn nhất của một người lính sau chiến tranh. Với người khác, đó chỉ là một sự nhầm lẫn. Nhưng với ông Thành, ngôi mộ ấy nhắc ông nhớ rằng lẽ ra mình cũng có thể nằm lại nơi đây, giữa 19 người đồng đội của Trung đội 2.
Điều đáng quý là sau khi trở về quê hương, ông không sống cho riêng mình. Những di chứng của bom đạn vẫn còn trên cơ thể, ông vẫn là một thương binh, nhưng ông tiếp tục tham gia phong trào địa phương, làm cán bộ cơ sở, từng có hơn 20 năm làm trưởng thôn Đồng Minh và cùng bà con xây dựng cuộc sống mới. Một nguồn tư liệu ghi nhận ông đã tích cực vận động người dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, góp phần cải thiện đời sống của thôn quê.
Nhưng có lẽ điều khiến ông luôn cảm thấy mình còn một trách nhiệm đặc biệt chính là phải kể cho thế hệ sau về những người đã nằm lại. Ông nhớ từng người đồng đội, nhớ những năm tháng họ đã cùng nhau chiến đấu và không muốn ký ức ấy bị rơi vào quên lãng. Ông từng nói rằng những người nằm trong những ngôi mộ ấy, dù có thể là người mình từng quen hay chưa từng gặp, thì chắc chắn vẫn là đồng đội của mình.
Nghe câu chuyện của ông, em hiểu rằng “Thời Hoa lửa” không chỉ có những chiến thắng được ghi trong sách sử. Đó còn là những người lính 19, 20 tuổi nằm lại giữa chiến trường, là một người mẹ tưởng đã mất con, là một người lính trở về nhưng suốt đời không quên những người đã không trở về cùng mình. Hoa của thời ấy là tuổi trẻ. Lửa là chiến tranh. Giữa lửa đạn, tình đồng đội vẫn nở thành những bông hoa đẹp nhất.
Thế hệ chúng em hôm nay thật may mắn khi được lớn lên trong hòa bình. Chúng em không phải nghe tiếng bom rơi, không phải sống trong hầm trú ẩn, không phải chia tay bạn bè để bước vào một trận chiến mà chẳng biết mình có trở về hay không. Nhưng chính vì được sống trong bình yên nên chúng em càng phải biết trân trọng những gì mình đang có. Yêu nước hôm nay có thể bắt đầu từ việc học tập nghiêm túc, tìm hiểu lịch sử quê hương, kính trọng những người có công, biết ơn các thương binh, liệt sĩ và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
Với em, câu chuyện của ông Vũ Ngọc Thành giống như một tiếng gọi từ quá khứ. Tiếng gọi ấy nhắc chúng em rằng có những người đã hy sinh cả tuổi trẻ để chúng em có thể bình yên lớn lên. Có những người trở về với thương tích trên cơ thể nhưng vẫn tiếp tục sống vì quê hương. Và có những ngôi mộ mang tên người đang sống, như một lời nhắc nhở sâu sắc rằng ranh giới giữa sống và chết trong chiến tranh mong manh đến nhường nào. “Thời Hoa lửa” đã đi qua, nhưng câu chuyện của những người như ông Thành sẽ còn ở lại, để chúng em hiểu hơn về giá trị của hòa bình và biết sống xứng đáng hơn với quê hương, đất nước.



