Cựu chiến binh

CÂU CHUYỆN ĐỜI LÍNH - LẠI VĂN TĂNG

Lào Cai04/12/2025PHÙNG THỪA PHÚ (Đoàn xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN ĐỜI LÍNH - LẠI VĂN TĂNG

Tôi tên là Lại Văn Tăng, sinh năm 1954, quê ở Hương Sơn – Lạc Giang – Bắc Giang. Giờ già rồi, nhưng mỗi lần nhắc lại chuyện đi lính ngày xưa là ký ức lại hiện về rất rõ. Ngày đó gian khổ thật, nhưng cũng là quãng đời tôi nhớ nhất. Năm 1971, tôi mới 16 tuổi, tuổi còn nhỏ nhưng trong làng người đi bộ đội nhiều lắm.

Nghe tin miền Nam đánh nhau ác liệt, tôi cứ rộn cả người, muốn đi theo anh em. Nghĩ mãi, tôi quyết định khai thêm hai tuổi, tự viết đơn rồi ghi luôn là xã đội và bố mẹ đã đồng ý. Lúc cán bộ xã đọc danh sách, bố mẹ mới biết.

Thế là tháng 12/1971, tôi nhập ngũ vào Trung đoàn 568. Tôi theo đơn vị hành quân lên núi Yên Tử, rồi sang Hưng Yên, sau đó đi suốt vào miền Nam. Đường đi dài, người thì gầy còm, ba lô lúc nào cũng nặng trĩu vai.

Khi vào đến chiến trường, tôi được biên chế vào Tiểu đội trinh sát – Quân khu 6, đóng ở khu vực Tây Ninh. Công việc trinh sát thì ai cũng biết: Đi trước đơn vị, quan sát địch, nắm đường đi lối lại rồi báo cáo. Ngày nào cũng đi sớm về tối, có hôm đi cả đêm.

Lính trinh sát quen với rừng núi, muỗi vắt, mưa nắng là chuyện thường. Ăn uống thiếu thốn, nhưng anh em động viên nhau, bảo nhau cố gắng. Thời đó, cứ có cơm ăn là mừng rồi.

Đến tháng 10/1974, sáu người chúng tôi nhận nhiệm vụ đi trinh sát đến chốt 42, huyện Lâm Khánh – Đồng Nai. Rừng lúc ấy yên ắng lắm, đường nhỏ, khó đi. Chúng tôi đi hàng ngang, quan sát kỹ từng đoạn.

Bất ngờ, mìn nổ. Một tiếng nổ lớn làm tôi choáng váng, đất đá tung lên mù mịt. Tôi bị hất ngã xuống, tai ù đặc. Khi nhìn lại thì bốn đồng đội đã hy sinh ngay tại chỗ.

Chỉ còn tôi và đồng chí Nguyễn Tất Thành, quê Lâm Thịnh – Hà Bắc, còn sống. Thành bị thương nhưng vẫn kéo tôi dậy, bảo cố chạy khỏi khu vực đó. Hai anh em vừa chạy vừa lần đường, cuối cùng thoát ra được đường 20, gặp đơn vị ta. Hôm đó là kỷ niệm sống còn, đến giờ tôi vẫn nhớ như mới hôm qua. Nghĩ lại mà rùng mình, còn xác của 4 đồng đội chúng tôi đã nghe người dân kể lại là bọn lính mỹ họ đào đất lấy máy ủi ủi xuống hố rồi lấp lại.

Sau hôm đó, tôi vẫn tiếp tục nhiệm vụ trinh sát. Ngoài ra còn đưa đạn, mìn, dẫn bộ binh vào vị trí chiến đấu. Việc gì cũng phải làm cẩn thận, chỉ cần sơ suất là nguy hiểm ngay.

Năm 1975, miền Nam giải phóng. Tôi trở lại Quân khu 6 và được phân làm đội trưởng bộ binh. Thời điểm ấy chúng tôi chủ yếu ổn định đơn vị, củng cố lực lượng. Năm 1977, tôi được cử đi học ở Học viện Hậu cần (Gia Lai), học về trợ lý đạn dược.

Đến tháng 3/1979, tôi đi hướng dẫn cho các trung đoàn, sư đoàn cách bốc xếp, bảo quản kho đạn, phân loại từng loại đạn pháo, hướng dẫn dụng cụ, thiết bị. Tháng 9/1979, ra trường, tôi được điều lên Quân đoàn 6 ở Mỏ Siêu – huyện Bảo Yên, làm trợ lý đạn – vũ khí.

Tháng 8/1980, tôi đi tập huấn 11 tháng ở kho đạn Hòa Bình, sau đó làm chủ nhiệm kho vũ khí đạn của quân đoàn. Công việc này đòi hỏi tỉ mỉ, chịu khó, ngày nào cũng kiểm kê, giám sát.

Năm 1981, tôi lấy vợ ở xã Võ Lao. Khi ấy tôi công tác gần đó, quen rồi tìm hiểu, hợp nhau thì cưới. Đám cưới đơn giản ,Từ đó, Võ Lao trở thành nơi tôi gắn bó lâu dài.

Đến tháng 12/1988, sau khi quân đoàn sáp nhập về quân khu, sức khỏe tôi yếu dần vì ảnh hưởng từ chiến tranh. Tôi xin về chế độ bệnh binh và ở với gia đình tại Võ Lao – Lào Cai cho đến nay.

Giờ già rồi, ngồi kể lại chuyện cũ cho con cháu nghe, tôi chỉ mong chúng nó hiểu rằng ngày xưa khó khăn lắm. Đồng đội tôi có người về được, có người mãi mãi nằm lại chiến trường. Những gì tôi làm được chỉ là phần nhỏ. Nhưng đã đi qua chiến tranh, tôi càng quý cuộc sống bình yên bây giờ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn