Bài viết

Câu chuyện của 20 vị anh hùng

Nguyễn Thị Mai Anh

22/08/2026phường Phù Liễn (phường Phù Liễn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguồn sử liệu về Hai Bà Trưng

Tài liệu lịch sử đầu tiên ghi chép về Hai Bà Trưng xuất hiện trong cuốn Hậu Hán Thư, được viết vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên bởi học giả Phạm Diệp. Cuốn sách này ghi lại lịch sử nhà Hán từ năm 6 đến năm 189 sau Công nguyên, với một số nội dung mô tả ngắn gọn về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống lại nhà Tây Hán. 

Tiểu sử Hai Bà Trưng 4

Trong Hậu Hán Thư, quyển 86, phần "Tây Nam di liệt truyện" có ghi rằng vào năm Kiến Vũ thứ 16 (năm 40 sau Công nguyên), hai người phụ nữ từ Giao Chỉ là Trưng Trắc và Trưng Nhị đã đứng lên khởi nghĩa, tấn công vào quận phủ.

Trưng Trắc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, kết hôn với Thi Sách, một nhân vật mạnh mẽ đến từ Chu Diên. Do bị Thái thú Tô Định đàn áp khốc liệt, Trưng Trắc đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán. 

Cuộc khởi nghĩa nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các tộc trưởng của các quận như Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, giúp Hai Bà chiếm được 65 thành trì và tự xưng là Nữ vương. 

Tuy nhiên, đến năm 42 sau Công nguyên, Hán Quang Vũ Đế đã cử tướng Mã Viện cùng quân đội đàn áp, và vào tháng 4 năm 43, quân đội nhà Hán đánh bại lực lượng của Hai Bà Trưng, dẫn đến sự thất bại và xử tử hai chị em cùng các đồng minh của họ.

Trong các tài liệu lịch sử Việt Nam, Đại Việt sử lược là cuốn sách cổ nhất ghi chép về Hai Bà Trưng. Theo tài liệu này, Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, và bà kết hôn với Thi Sách, người đến từ Chu Diên. Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi nhận Hai Bà Trưng thuộc dòng dõi Lạc tướng Mê Linh, và sau khi lên ngôi, hai bà đã đổi sang họ Trưng.

Tiểu sử Hai Bà Trưng 8

Theo truyền thuyết, quê nội của Hai Bà Trưng nằm ở làng Hạ Lôi và quê ngoại ở làng Nam Nguyễn, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Mẹ của Hai Bà, được biết đến với tên gọi Man Thiện hoặc Trần Thị Đoan, là nhân vật có thể được thần thánh hóa vào thế kỷ 17 hoặc 18. 

Theo các nhà sử học hiện đại, vào đầu Công nguyên, người Việt chưa có họ chính thức, do đó những tên gọi này có thể không hoàn toàn chính xác và mang tính chất thần thoại. Một số giả thuyết khác cho rằng tên của Hai Bà Trưng có nguồn gốc từ nghề dệt lụa truyền thống của Việt Nam.

 Cụ thể, tên "Trưng Trắc" và "Trưng Nhị" có thể xuất phát từ "Trứng Chắc" và "Trứng Nhì" trong tiếng Việt cổ, liên quan đến nghề dệt. Tuy nhiên, những giả thuyết này vẫn chưa có bằng chứng khoa học cụ thể và chủ yếu dựa trên sự suy luận.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, theo các tài liệu ghi chép trong Hán thư và sử Việt, bắt nguồn từ sự áp bức nặng nề của Thái thú Tô Định đối với người dân Giao Chỉ. Sự khắc nghiệt trong chính sách cai trị, cùng với sự bóc lột tàn bạo của nhà Đông Hán, đã gây ra làn sóng phản kháng mạnh mẽ từ các Lạc tướng người Việt. 

Trong khi Hán thư không ghi rõ nguyên nhân cái chết của Thi Sách, chồng của Trưng Trắc, thì Đại Việt sử ký toàn thư lại nhấn mạnh rằng đây là lý do chính khiến cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Tuy nhiên, tài liệu trước đó như Đại Việt sử lược không đề cập chi tiết về sự kiện này.

Theo các học giả như Đào Duy Anh và Trần Quốc Vượng, chính sách đồng hóa cưỡng bức và áp lực bóc lột mà nhà Đông Hán áp đặt lên người Việt đã khiến các Lạc tướng liên kết và nổi dậy chống lại sự cai trị này. 

Tiểu sử Hai Bà Trưng 7

Trưng Trắc, kết hôn với Thi Sách – con trai của một Lạc tướng tại Chu Diên, cùng chia sẻ chí hướng đấu tranh giành lại độc lập. Khoảng năm 39-40, để đối phó với phong trào chống đối ngày càng lan rộng, Thái thú Tô Định đã ra lệnh giết hại Thi Sách nhằm trấn áp tinh thần phản kháng.

Sự kiện này khiến Trưng Trắc cùng các Lạc tướng căm thù sâu sắc. Với sự hỗ trợ từ em gái Trưng Nhị, Trưng Trắc đã tập hợp quân đội tại Hát Giang (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. 

Vào tháng 2 năm 40, Hai Bà chính thức phát động cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ các lực lượng quân đội và nhân dân khắp các vùng Âu Lạc và Nam Việt cũ.

Quân khởi nghĩa của Hai Bà đã nhanh chóng chiếm được trị sở Luy Lâu, buộc Thái thú Tô Định phải tháo chạy về Nam Hải (Trung Quốc). Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, và lực lượng của Hai Bà chiếm được 65 thành tại Lĩnh Nam. Sau chiến thắng, Trưng Trắc tự xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương), thiết lập quyền lực trên toàn bộ vùng đất vừa giải phóng.

Diễn biến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Hội thề Hát Môn

Vào ngày 4 tháng 9 năm Kỷ Hợi (năm 39), Hai Bà Trưng đã tổ chức Hội thề tại bãi đá Tràng Sa, cửa sông Hát (nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Đây là buổi lễ quan trọng, với lời thề của Trưng Trắc mang tinh thần quyết tâm giành lại độc lập cho đất nước và bảo vệ danh dự của chồng. Lời thề nổi tiếng của bà được ghi lại như sau:

Tiểu sử Hai Bà Trưng 2
  • “Một xin rửa sạch nước thù

  • Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

  • Ba kêu oan ức lòng chồng

  • Bốn xin vẹn trọn công lao này.”

  • Khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định

    Sau thời gian chuẩn bị, vào tháng 2 năm 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Theo Đại Việt sử ký tiền biên, mặc dù Trưng Trắc vẫn đang để tang chồng, bà vẫn quyết định trang điểm đẹp khi xuất quân nhằm tăng thêm nhuệ khí cho quân đội. 

    Quân khởi nghĩa nhanh chóng tấn công và chiếm được trị sở Luy Lâu, buộc Thái thú Tô Định phải chạy trốn về Nam Hải (nay thuộc Trung Quốc). Các quận như Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng hưởng ứng và quy phục cuộc khởi nghĩa. Trưng Trắc sau đó tự lập làm Trưng Nữ Vương, nắm quyền cai quản 65 thành tại Lĩnh Nam.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 6

    Thất bại và kháng chiến đến cùng

    Vào năm 41, nhà Hán nhận thấy sự xưng vương của Trưng Trắc và việc chiếm đóng các thành ấp đã đe dọa quyền lực của họ. Quân Hán dưới sự chỉ huy của Phục Ba tướng quân Mã Viện, với đội quân khoảng 20.000 người, đã tiến hành cuộc phản công quy mô lớn vào lãnh thổ Giao Chỉ.

    Cánh quân của Mã Viện tiến đến Lãng Bạc (gần La Thành, Hà Nội), đánh trận quyết định với quân Hai Bà. Trước tình hình khó khăn, Hai Bà lui quân về giữ Cấm Khê. Dù nỗ lực chống trả, vào năm 43, Hai Bà Trưng đã thất bại tại trận Cấm Khê và tử trận. Theo truyền thuyết Việt Nam, Hai Bà đã chọn cách tự vẫn tại sông Hát để giữ trọn khí tiết, trong khi Hậu Hán thư của Trung Quốc ghi rằng Hai Bà bị bắt và xử tử.

    Đánh giá cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

    Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhiều sử gia đánh giá là một dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, thể hiện tinh thần anh hùng và bất khuất của người Việt. Sử gia Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký toàn thư ca ngợi Hai Bà Trưng dù là phụ nữ nhưng chỉ cần hô một tiếng đã nhận được sự hưởng ứng từ các quận và nhân dân khắp nơi. 

    Sử gia Nguyễn Nghiễm thời Lê trung hưng nhận xét rằng Trưng Trắc, với tài lãnh đạo xuất chúng, đã khơi dậy lòng căm thù đối với nhà Hán và tạo nên cuộc khởi nghĩa lớn, giúp dân chúng thoát khỏi cảnh áp bức. Dù khởi nghĩa sau đó thất bại, nhưng nó vẫn để lại một dấu ấn mạnh mẽ về tinh thần độc lập.

    Vua Tự Đức trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục cũng tôn vinh sự dũng cảm của Hai Bà Trưng khi dám đứng lên chống lại nhà Hán, dù biết trước những khó khăn và sự cô lập. Ông cũng chỉ trích những nam tử thời bấy giờ vì không dám đứng lên đấu tranh.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 5

    Hai Bà Trưng không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước mà còn được xem là biểu tượng cho quyền bình đẳng giới trong văn hóa Việt Nam. Sự lãnh đạo của Hai Bà, cùng hàng trăm nữ tướng khác, đã khắc sâu truyền thống bất khuất của phụ nữ Việt Nam. Nguyên lý Mẹ và bình quyền nam nữ in sâu trong văn hóa Việt, khiến nhiều học giả coi đây là điểm vượt trội so với các nền văn hóa phương Đông và phương Tây.

    Công trình vinh danh Hai Bà Trưng

    Hiện nay, có 103 địa điểm thờ cúng Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh tại khắp Việt Nam, nổi bật tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, và Thái Bình. Đền Hát Môn, Đền Đồng Nhân và Đền Hạ Lôi là những nơi quan trọng thờ Hai Bà, trong đó Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội) là nơi Hai Bà từng dấy binh.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 3

    Ngoài ra, tại Trung Quốc, vẫn tồn tại miếu thờ Hai Bà Trưng do các thủ lĩnh Việt Nam bị bắt lập ra để tưởng nhớ quê hương.

    Tên Hai Bà Trưng được đặt cho nhiều trường học, đường phố và công trình văn hóa, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng dân tộc.

    T

    Sự kiện Hai Bà Trưng

    Hàng năm, vào ngày 6 tháng 2 âm lịch, lễ hội tưởng nhớ Hai Bà Trưng được tổ chức long trọng để ghi nhớ công lao to lớn của hai vị nữ anh hùng. Trước đây, từ năm 1955 đến 1975, sự kiện này còn là ngày lễ chính thức của Việt Nam Cộng hòa, với các hoạt động diễu hành và lễ nghi trang trọng. Đặc biệt, ngày này từng được công nhận là Ngày Phụ nữ Việt Nam tại miền Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa.

    Sau năm 1976, khi đất nước thống nhất, ngày lễ tưởng nhớ Hai Bà Trưng không còn được công nhận là ngày lễ chính thức trên toàn quốc. Dù vậy, hình ảnh Hai Bà Trưng vẫn luôn hiện diện trong lòng người dân Việt Nam qua các truyền thuyết, trò chơi dân gian, truyện tranh, và các tác phẩm văn học. Hình tượng anh hùng của Hai Bà tiếp tục được tôn vinh, là biểu tượng của sự kiên cường và tinh thần độc lập của dân tộc.

    Một số tài liệu lưu trữ về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    03:52 PM 23/08/2023  |   Lượt xem: 19351

    Trân trọng chọn lọc và giới thiệu một số tài liệu, tư liệu, hình ảnh tiêu biểu gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

       Đồng chí Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, miền quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng.
       Vào những năm bốn mươi của thế kỷ XX, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh dìu dắt, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tích cực hoạt động, xây dựng cơ sở, mở lớp huấn luyện quân sự tại căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Tháng 12 năm 1944, đồng chí được Lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. 
       Trên các cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban Kkhởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng trong các quyết sách chiến lược của Đảng, chỉ đạo các lực lượng vũ trang, cùng toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay từ những ngày đầu xây dựng và củng cố chính quyền, tổ chức bộ máy nhà nước mới, đồng chí được Đảng và Chính phủ tin tưởng giao nhiều trọng trách, làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, làm Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tháng 7, tháng 8 năm 1948, đồng chí giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập. Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí đã chỉ huy nhiều chiến dịch. Đặc biệt năm 1954, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy các đại đoàn của Quân đội là lực lượng tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đánh bại thực dân Pháp, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Sau khi miền Bắc được giải phóng, đồng chí đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam; lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược, làm nên những thắng lợi vẻ vang với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối. Đất nước hòa bình, thống nhất, trên cương vị là Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa II, III, IV, V và VI; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa II, III và IV; Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII. Đồng chí cũng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Chủ tịch danh dự của các hội: Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hội khuyến học Việt Nam, Hội cựu giáo chức Việt Nam...
       Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Quân công Hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
       Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng liên tục hơn 80 năm, đồng chí đã có nhiều công lao to lớn đối với đất nước, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhân dân yêu mến, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và trân trọng.
       Tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, có nhiều tài liệu, tư liệu, hình ảnh về hoạt động của đồng chí Võ Nguyên Giáp, là những dấu mốc quan trọng, ghi nhận những đóng góp lớn lao của đồng chí: Sắc lệnh số 110-SL, ngày 20/1/1948, cử ông Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy Quân đội  Quốc gia và dân quân tự vệ thụ cấp Đại tướng; Sắc lệnh số 447- SL ngày 19/12/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thưởng tặng Huân chương Hồ Chí Minh hạng Ba cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam; Sắc lệnh số 219-SL, ngày 2/9/1954, thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam; các văn bản do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký và nhiều tài liệu, tư liệu khác như: Lời kêu gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về việc tích cực chuẩn bị tổng phản công năm 1949; Huấn lệnh, nhật lệnh, huấn thị và báo cáo của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp năm 1948 -1951; các cuốn sách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết; sách của các nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài viết về Đại tướng. 
       Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng tài năng và đức độ, người con ưu tú của đất nước đã trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Nhân dân ta. Con người, nhân cách và những cống hiến to lớn ấy sẽ mãi được lưu danh trong trang sử vẻ vang của dân tộc ta và lịch sử phong trào cách mạng thế giới. Nhân kỷ niệm 112 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2023), xin trân trọng chọn lọc, giới thiệu một số tài liệu, tư liệu, hình ảnh tiêu biểu gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng.

    Sắc lệnh số 76-SL ngày 26/8/1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh về việc Tổ chức trong Quân đội Quốc gia Việt Nam một Đại đoàn, lấy tên là  Đại đoàn Độc lập (Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam Võ Nguyên Giáp tiếp ký).
    Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 07

    Sắc lệnh số 110-SL ngày 20/1/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử ông Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ thụ cấp Đại tướng.
    Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 08

     

    Sắc lệnh 447- SL ngày 19/12/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thưởng tặng Huân chương Hồ Chí Minh hạng Ba cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam.

    Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 10

    Sắc lệnh số 219-SL ngày 2/9/1954 của Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam .
    Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 14

     

    Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên phải) cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Trường Chinh báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1954.
    Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Mục lục ảnh Kháng chiến chống Pháp 1945-1954
     

    Tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp duyệt phương án chiến đấu bắn hạ pháo đài bay B52 không lực Hoa Kỳ tập kích Hà Nội năm 1972. 
    Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Mục lục ảnh lịch sử Cách mạng 1945-1985

     

     

    Một số bức ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng chụp đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.



    rần Hưng Đạo – Vị anh hùng dân tộc

    Trần Hưng Đạo (1228–1300), tên thật là Trần Quốc Tuấn, là một trong những vị tướng kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có công lớn trong việc chỉ huy quân dân Đại Việt ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông xâm lược vào các năm 1258, 1285 và 1288.

    Đỉnh cao trong sự nghiệp của ông là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Nhận thấy quân địch chủ quan và phụ thuộc vào đường thủy, Trần Hưng Đạo đã cho quân đóng những bãi cọc gỗ lớn dưới lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều dâng cao, quân Nguyên tiến vào cửa sông. Đến lúc nước rút, thuyền chiến của địch mắc cạn trên bãi cọc. Quân Đại Việt lập tức từ nhiều hướng tấn công, tiêu diệt phần lớn quân địch, buộc chúng phải rút lui.

    Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt, đồng thời khẳng định tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và tài thao lược quân sự của dân tộc Việt Nam.

    Đến ngày nay, Trần Hưng Đạo vẫn được nhân dân tôn kính là Đức Thánh Trần. Nhiều đền thờ, tượng đài và tên đường trên khắp cả nước được đặt theo tên ông để tưởng nhớ công lao to lớn đối với đất nước

    1. Ngày 01-01: “Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”(1).

         Là lời thư chúc năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 01 tháng 01 năm 1952, đăng trên Báo Nhân Dân ngày 03-01-1952, trong bối cảnh nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua gần 7 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc: "Nhân dịp Nguyên đán dương lịch 1952, tôi gửi lời thân ái chúc: Toàn thể đồng bào và kiều bào, Toàn thể chiến sĩ, các anh chị em cán bộ, các cụ phụ lão, các vị thân sĩ, các cháu thanh niên, nhi đồng. Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.

                Lời Bác trong thư đầu năm mới thể hiện tấm lòng thương nhớ da diết và trân trọng của Người đối với đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài và khích lệ, khơi dậy, động viên, thôi thúc “con dân nước Việt” nêu cao truyền thống yêu nước, cống hiến sức mình cho thắng lợi sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc.

              Đầu năm 1952, ngay khi đăng tải trên báo, lời chúc đầu năm mới của Người đã được các tầng lớp nhân dân, kiều bào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đón nhận, chuyển hóa thành khẩu hiệu “hành động cách mạng” trên khắp tiền tuyến, hậu phương trong cả nước; cán bộ, chiến sĩ quân đội dấy lên phong trào thi đua học tập, huấn luyện, đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân cả nước, trên dưới đồng lòng, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phản công chiến lược, tạo ra thế phát triển tiến công trên diện rộng, làm tiền đề đẩy nhanh thực hiện chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, mau chóng kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, mỗi năm cứ đến ngày 01/01 Bác thường có các bài thơ chúc Tết.

              Vang vọng lời Bác năm xưa, mỗi dịp vui Xuân, đón Tết Nguyên đán của dân tộc, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi lời chúc năm mới tới toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài, phát huy trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất của dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, đoàn kết thi đua yêu nước, giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vẻ vang, sánh vai cùng bè bạn năm châu.

                Trong những giờ phút thiêng liêng chuyển sang năm mới, tự hào vững bước dưới Quân kỳ "Quyết chiến, quyết thắng", cán bộ, chiến sĩ Quân đội khắc sâu lời chúc năm mới của Bác; tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tay súng, giữ vững biên cương, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống ấn no hạnh phúc của nhân dân.

    1. Ngày 02-01: “Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”(2)

             Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Phát biểu tại buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ngày 02-01-1967; đăng trên Báo Nhân Dân, số 4660, ngày 10-01-1967, trong bối cảnh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc phát huy tinh thần yêu nước, không sợ hy sinh, gian khổ, đang gắng sức thi đua xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

             Trong lời phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, tôn vinh những cá nhân, tập thể đã cống hiến, hy sinh xương máu vì sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt mấy chục năm; động viên, huấn thị mọi người, mọi tập thể hãy cố gắng hơn nữa, thi đua sản xuất, công tác và chiến đấu, lập nhiều thành tích to lớn, góp phần cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

             Lời của Hồ Chí Minh đã lan tỏa tới quốc dân đồng bào, thâm nhập sâu vào Quân đội, trở thành động lực thúc đẩy mọi cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua học tập, công tác, huấn luyện, chiến đấu, lập nên nhiều chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

              Đến hôm nay, lời phát biểu của Người vẫn tỏa hào khí mãnh liệt, đang được mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân khắc ghi, đoàn kết thi đua, nỗ lực thực hiện thắng lợi Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; xây dựng và nhân rộng nhiều tập thể, cá nhân Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; quan tâm tạo điều kiện để các tập thể, cá nhân anh hùng, điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy thành tích cao hơn nữa; phát động, khuyến khích, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực học tập, làm theo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    1. Tháng 01: “Đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam”(3)

           Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, viết vào tháng 01-1959, trong bối cảnh đất nước Việt Nam bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai dùng bom đạn để đàn áp, giết hại nhân dân Việt Nam, Người chỉ rõ: Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và câu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết. Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam. Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy”.

    Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cơ sở để Đảng ta hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương cách mạng - nhân tố quyết định đến những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lời của Người đầu năm 1959 đã khích lệ, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, vượt qua khó khăn, thử thách, đoàn kết đồng khởi, quyết tâm đấu tranh diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, giành chính quyền, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, hình thành một cao trào cách mạng đồng khởi vũ trang của quần chúng rộng khắp, tạo tiền đề đẩy nhanh thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

           Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; song lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm ấy đến hôm nay vẫn đang lan tỏa sức mạnh, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết, kiên trì, sáng tạo đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

            Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, luôn ghi sâu lời Bác, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

    1. Ngày 04-01 "…Anh chị em trí thức ta cũng nên có cuộc vận động để góp phần vào phong trào chung"

           Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, được đăng trên Báo Nhân Dân, số 4296, ngày 8-1-1966; trong lúc đồng bào miền Nam đang đi từ thắng lợi này sang thắng lợi khác; phong trào chống Mỹ, cứu nước sôi nổi ở miền Bắc, quân và dân cả nước giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

            Trong bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước, công nhân có cuộc vận động "3 xây, 3 chống", nông dân có cuộc vận động "cải tiến, quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật", phụ nữ có phong trào "ba đảm đang", thanh niên có phong trào "ba sẵn sàng", phụ lão một số nơi có phong trào "bạch đầu quân". Những cuộc vận động ấy, nảy nở nhiều con người mới rất anh hùng. Anh chị em trí thức ta cũng nên có cuộc vận động để góp phần vào phong trào chung đó.

            Lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời điểm ấy, không chỉ đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ trí thức, mà còn định hướng, thôi thúc, dấy lên phong trào "người người thi đua, ngành ngành thi đua; ngày ngày thi đua của mọi người, mọi ngành, mọi cấp, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

             Trong giai đoạn hiện nay, phong trào thi đua yêu nước của các hội trí thức từ Trung ương đến địa phương đã có bước phát triển rộng sâu, tạo động lực, đòn bẩy tinh thần, khích lệ, động viên, cổ vũ hội viên trí thức phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, những năm qua, các tổ chức hội trí thức đã quan tâm, ghi nhận, tôn vinh những điển hình tiên tiến, có công lao, đóng góp xuất sắc trong hoạt động; qua đó tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, đẩy mạnh hơn nữa phong trào thi đua yêu nước "đoàn kết, sáng tạo" cống hiến sức lực, trí tuệ, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

             Trong Quân đội, tinh thần thi đua yêu nước được cụ thể hóa thành phong trào thi đua quyết thắng, gắn chặt chẽ với các cuộc vận động, các phong trào thi đua của các ngành, các cấp; khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng hy sinh quên mình của cán bộ, chiến sĩ trên tuyến đầu của Tổ quốc, nơi đầu sóng ngọn gió để canh trời, bám biển vì bình yên của Tổ quốc; tinh thần cháy bỏng khát vọng và đam mê của những nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu; tinh thần miệt mài, tích cực, sáng tạo của những người thợ mặc áo lính trong nhà máy, xí nghiệp, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu tuyệt đối trung thành của Đảng, của nhân dân trong thời kỳ mới.

    1. Ngày 05-01: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(4)

               Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa: “Gửi anh chị em họa sĩ, biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo. Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 05 tháng 01 năm 1952; trong bối cảnh toàn thể dân Việt Nam đang thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” chống thực dân Pháp xâm lược.

             Trong thư năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, nghệ thuật đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tin tưởng, mong muốn công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ họa sĩ đi đầu xung kích, sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; xứng đáng là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, một trong những lực lượng tiên tiến trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc.

             Lời của Người trong thư năm ấy đã nhanh chóng được anh chị em họa sĩ nói chung, họa sĩ trong Quân đội nói riêng vui mừng đón nhận, hun đúc tinh thần thi đua yêu nước, hăng say, sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

              Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao chất lượng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ - người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; thực sự là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

    1. Ngày 06-01: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”(5)

             Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Ba mươi năm hoạt động của Đảng: “… Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”, đăng trên Báo Nhân Dân, số 2120, ngày 06-01-1960; trong bối cảnh Đảng ta tròn 30 tuổi, đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đẩy nhanh hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

             Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn tổng kết lịch sử, khẳng định Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng tỏ rõ là lực lượng đại biểu cho trí tuệ, ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân Việt Nam: Dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.

              Lời của Người là nguồn ánh sáng chiếu rọi khắp mọi miền đất nước, được mọi cán bộ, đảng viên của Đảng trân trọng đón nhận, tạo động lực tinh thần thi đua học tập nâng cao bản lĩnh cách mạng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, gắn bó đoàn kết cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

              Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; không ngừng củng cố tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị, phát huy truyền thống dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, anh dũng, kiên cường, chiến đấu sáng tạo, cùng toàn dân đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

    Trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấm nhuần lời Bác năm xưa, thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong Quân đội, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng.

    1. Ngày 07-01: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”(6)

               Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói tại trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh: “… Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 136, ngày 08-01-1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.

               Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải nắm vững nhiệm vụ cách mạng, vai trò tiên phong của cán bộ, đảng viên, cán bộ tự vệ; nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia kháng chiến, kiến quốc; gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: Nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng.

             Thấm nhuần lời nói của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng; đồng thời, thôi thúc toàn quân, toàn dân tích cực đóng góp trí tuệ, công sức để xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

             Lời dạy năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn được các Học viện, nhà trường trong Quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào hoạt động giáo dục - đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; thực hành "nói đi đôi với làm", nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quân tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan Quân đội vừa "hồng" vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

    1. Ngày 08-01: “Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe”(7)

                 Ngày 08-01-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các cán bộ tuyên truyền: “…Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe. Ta đừng bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 137, ngày 09-01-1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa ra đời, đang phải đương đầu với nhiều thách thức lớn, nhất là sự chống phá cách mạng của bọn thực dân Pháp xâm lược. Lời của Người đầu năm 1946 nhằm huấn thị cán bộ tuyên truyền phải hiểu rõ trong hoàn cảnh, nhiệm vụ nào cũng phải tôn trọng tính khách quan, chân thực, phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng, trình độ dân trí, phát huy giá trị nhân đạo truyền thống của dân tộc Việt Nam; qua đó, hình thành thái độ, phương pháp tuyên truyền phù hợp. Hơn thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác tuyên truyền là phải “tôn trọng hiện thực khách quan”, có như vậy tuyên truyền mới có nhiều người nghe, mới đạt được mục đích và kết quả tốt.

               Lời của Người năm ấy được đội ngũ cán bộ tuyên truyền từ Trung ương đến địa phương quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền trong cả nước. Trong lĩnh vực quân sự, cán bộ làm công tác tuyên truyền ở các cấp được nghiên cứu, quán triệt sâu sắc lời chỉnh huấn của Bác Hồ; nắm vững đường lối kháng chiến, kiến quốc; đổi mới, sáng tạo nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền phong phú, được cán bộ chiến sĩ quân đội và toàn dân đón nhận.

             Đến hôm nay, lời của Hồ Chí Minh vẫn được đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền trong Quân đội nghiên cứu quán triệt học tập, vận dụng nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.

    1. Tháng 01: “Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà”(8)

              Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài "Thanh niên nông dân", đăng trên báo Nhân Dân, số 159, từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 01 năm 1954, trong bối cảnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành được nhiều thắng lợi lớn; lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng; trong đó, lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng dân công với đại đa số là thanh niên nông dân.

              Qua lời của Bác, chúng ta thấy Người nhận rõ đặc điểm và thế mạnh của lực lượng thanh niên Việt Nam, chủ yếu là con em của nông dân, bị phong kiến, địa chủ áp bức, bóc lột tàn tệ…, nhưng họ có lòng yêu nước nồng nàn, nhiệt tình cách mạng, cần cù chịu khó, cần phải tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thành những cán bộ tốt để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong hiện tại và trong tương lai của nước nhà.

              Lời huấn thị của Người không chỉ đặt ra yêu cầu và định hướng cho các tổ chức đảng, các cấp, các ngành phát động phong trào, tổ chức giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, nhất là thanh niên nông dân, mà còn khơi dậy tinh thần nhiệt huyết cách mạng, hăng hái thi đua học tập, huấn luyện, rèn luyện, tích cực đóng góp sức mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

              Hiện nay, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đây vẫn nguyên giá trị; được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào đường lối cách mạng trong tình hình mới; chủ trương xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực với những giải pháp đồng bộ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

             Thấm nhuần lời của Người, thanh niên Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, phấn đấu tự mình nâng cao trình độ về mọi mặt, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội hăng hái thi đua "tiến công vào khoa học kỹ thuật", “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hoàn toàn thắng lợi.

    1. Ngày 10-01: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ(9)

               Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, ngày 10-01-1946, đăng trên Báo Cứu quốc, số 139, ngày 11-01-1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được khai sinh, đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, nhất là về tài kinh tế, tài chính; quốc khố trống rỗng, nạn đói hoành hành và nhiều vấn đề xã hội như, dân trí mù chữ, bệnh tật tràn lan… đang nổi lên gay gắt.

               Lời phát biểu của Hồ Chí Minh đã nêu lên thực trạng những khó khăn chồng chất mà nhân dân cả nước đang phải đối mặt, gánh chịu; là thông điệp khẩn cấp kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nêu cao truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, gắng tìm mọi cách khắc phục khó khăn, giải cứu đất nước, nhân dân thoát ra khỏi cơn hoạn nạn; là tiền đề đến ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi thi đua ái quốc; phát động, nuôi dưỡng, phát triển các phong trào thi đua, như: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm", Hũ gạo chiến thắng", "bình dân học vụ"… đã thu hút, cổ vũ, động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xóa nạn mù chữ chống giặc dốt; và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm, làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy 5 năm, chấn động địa cầu.

             Trong thời kỳ đổi mới, thấm nhuần lời Bác năm xưa, tiếp tục kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã và đang ra sức hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước, thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, nâng cao đòi sống của nhân dân; quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững.

             Quán triệt sâu sắc lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng và bản chất, truyền thống tốt đẹp hơn 70 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam nêu cao tinh thần “sản xuất cũng là một mũi tiến công”, vừa là “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, vừa là “đội quân lao động sản xuất”; Quân đội ta đã chủ động ra quân trên nhiều lĩnh vực sản xuất, mạnh dạn đi vào nhiều ngành kinh tế mũi nhọn và hội nhập quốc tế; góp phần làm ra của cải vật chất cho xã hội, giữ vững và nâng cao đời sống bộ đội, tích cực tham gia giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong tình hình mới

    Bà Triệu, hay Triệu Thị Trinh, sinh ngày 2 tháng 10 năm 226 tại miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân (nay thuộc xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa).

    Bà là một trong những vị anh hùng nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, được biết đến với lòng dũng cảm và ý chí kiên cường chống lại sự đô hộ của nhà Đông Ngô. Khi mới 19 tuổi, bà đã tập hợp lực lượng và phát động cuộc khởi nghĩa vào năm 248, nhằm đánh đuổi quân xâm lược và giải phóng đất nước.

    Dù cuộc khởi nghĩa không thành công và bà mất năm 248 khi mới 22 tuổi, hình ảnh của bà vẫn mãi in đậm trong tâm thức người dân Việt Nam.

    Quê hương của Bà Triệu cũng là nơi sinh ra hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, những người có công lớn trong việc phát triển nền đại khoa Nho học cho Thanh Hóa và cả nước.

    Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ 15 đã ca ngợi bà là “người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp”. Nhà sử học thời Nguyễn cũng tôn vinh bà, ví bà sánh ngang với Hai Bà Trưng, những nữ anh hùng lẫy lừng của dân tộc.

    Hình ảnh Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng và cưỡi voi trắng ra trận đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và tinh thần quật cường của phụ nữ Việt Nam.

    Câu nói nổi tiếng của bà, “tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, ném cá Kình ở biển Đông, làm cho trời yên biển lặng, cứu vớt dân lành, chứ đâu giống như người đời cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người ta”, đã truyền cảm hứng cho biết bao thế hệ người Việt.

    Chính vì những đóng góp và hy sinh to lớn của mình, bà được phong tặng danh hiệu cao quý và được người dân tôn thờ như một nữ thần bảo vệ quê hương.

    Cuộc đời và sự nghiệp của Bà Triệu

    Nữ tướng yêu kiều và chí khí phi thường

    Cuộc đời và sự nghiệp của Bà Triệu 1

    Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh, sinh năm 226 tại Quân Yên, quận Cửu Chân (nay thuộc xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa).

    Từ nhỏ, Bà Triệu đã bộc lộ chí khí phi thường. Khi được cha hỏi về chí hướng, bà mạnh dạn thưa rằng muốn trở thành người anh hùng như Hai Bà Trưng. Bà nổi tiếng không chỉ bởi nhan sắc xinh đẹp, giỏi võ nghệ mà còn vì có tướng mạo cao lớn và tinh thần quật cường.

    Vào thời điểm đó, nhà Ngô áp đặt ách đô hộ lên nước ta với những chính sách bóc lột tàn bạo. Dân chúng phải nộp nhiều loại sản vật quý hiếm như ngọc trai, ngọc lưu ly, ngà voi, cùng các loại quả lạ như dứa, nhãn, chuối tiêu để cung phụng quan lại nhà Ngô, khiến đời sống vô cùng khốn khổ.

    Triệu Thị Trinh và anh trai Triệu Quốc Đạt vô cùng căm phẫn trước cảnh dân tình lầm than, quyết định tập hợp nghĩa quân khởi nghĩa chống giặc.

    Năm 248, khi mới 21 tuổi, bà cùng anh trai lập căn cứ trên núi Nưa, phát động cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân do bà lãnh đạo nhanh chóng đánh chiếm nhiều thành ấp, gây tiếng vang lớn.

    Sau khi anh trai mất, bà tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân và được tôn là Nhụy Kiều Tướng Quân. Hình ảnh bà mặc áo giáp vàng, chít khăn vàng, cưỡi voi một ngà phất cờ chỉ huy đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí kiên cường.

    Mặc dù giặc Ngô tìm mọi cách chia rẽ và mua chuộc, thậm chí phong cho bà chức Lệ Hải Bà Vương, Bà Triệu vẫn không khuất phục.

    Sau hơn nửa năm chống địch, bà hy sinh vào tháng 4 năm 248 khi mới 22 tuổi. Tinh thần và khí phách của Bà Triệu đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ sau, là biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí quật cường trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

    Huyền thoại Bà Triệu và sức mạnh của niềm tin dân tộc

    Cuộc đời và sự nghiệp của Bà Triệu 2

    Tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, truyền thuyết về núi đá biết nói vẫn còn lưu truyền. Một đêm thanh vắng, tiếng nói kỳ bí vang lên từ triền núi Tùng ở Phú Điền: “Có Bà Triệu tướng, Vâng mệnh trời ta. Trị voi một ngà, Dựng cờ mở nước.

    Lệnh truyền sau trước, Theo gót Bà Vương”. Lời sấm từ đá núi được người dân coi như mệnh trời, khẳng định Bà Triệu là thiên tướng giáng trần, lãnh đạo nhân dân vùng dậy chống giặc.

    Nhờ niềm tin vào lời sấm thiêng liêng, nhân dân khắp nơi nườm nượp theo về với Bà Triệu, khiến lực lượng nghĩa quân nhanh chóng phát triển mạnh mẽ.

    Núi Tùng trở thành nơi tụ nghĩa, nơi Bà Triệu và các nghĩa quân rèn luyện và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Trước khi chính thức phát động khởi nghĩa, Bà Triệu đã bí mật sai người thân tín lên núi Tùng, khoét đá thành hang rồi nấp kín trong hang đá, đọc to những câu sấm ngôn vào ban đêm để khích lệ tinh thần nghĩa quân.

    Tương truyền, trước khi mất, Bà Triệu quỳ xuống vái trời đất: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần). Sau khi bà mất, người dân vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe thấy tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí.

    Bà được coi là thần hộ mệnh, phù hộ cho nhiều thủ lĩnh sau này đánh tan quân xâm lược. Lý Bôn, người sau này lên làm vua, đã xây đền, lăng mộ để ghi nhớ công ơn của Bà Triệu. Bà Triệu trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu kiên cường trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

    Hình ảnh và câu chuyện của bà được khắc ghi qua nhiều thế hệ, minh chứng cho sự kính trọng và ngưỡng mộ mà nhân dân dành cho nữ tướng kiệt xuất này.

    Bà Triệu và huyền thoại voi trắng một ngà

    Cuộc đời và sự nghiệp của Bà Triệu 3

    Theo truyền thuyết, vùng Cẩm Trường, tỉnh Thanh Hóa, vào thế kỷ 3 có một con voi trắng một ngà rất hung dữ, thường xuyên phá hoại mùa màng, khiến dân làng vô cùng sợ hãi và khổ sở. Triệu Thị Trinh, với lòng dũng cảm và trí tuệ xuất chúng, quyết định trừ họa cho dân.

    Bà tổ chức một đội quân nhỏ, cùng họ vây bắt con voi dữ. Bà lùa voi xuống vùng đầm lầy, nơi nó khó di chuyển, rồi dũng cảm nhảy lên đầu voi, dùng kỹ năng và mưu trí để khuất phục.

    Sự kiên nhẫn và tài năng của bà đã làm cho con voi trắng, vốn khét tiếng hung dữ, phải ngoan ngoãn nghe lời. Con voi này sau đó trở thành người bạn chiến đấu trung thành của Bà Triệu.

    Hình ảnh bà cưỡi voi trắng một ngà, mặc áo giáp vàng, chỉ huy nghĩa quân đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và mưu trí hơn người. Bà đã dẫn dắt nghĩa quân chống lại ách đô hộ của nhà Đông Ngô, tạo nên những chiến công vang dội, dù cuối cùng cuộc khởi nghĩa không thành công.

    Bà Triệu, cùng với con voi trắng, đã trở thành biểu tượng bất diệt của sự quật cường và tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm. Hình ảnh oai hùng và câu chuyện về bà đã đi vào lòng dân tộc, được truyền tụng qua nhiều thế hệ, khẳng định vị thế của một nữ tướng tài ba và người anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

    Diễn biến của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

    Diễn biến của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

    Năm 248, cuộc khởi nghĩa do Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh, lãnh đạo bùng nổ tại căn cứ Phú Điền, thuộc Hậu Lộc, Thanh Hóa.

    Nghĩa quân dưới sự chỉ huy của bà đã nhanh chóng đánh phá các thành ấp của quan lại nhà Ngô tại quận Cửu Chân, một khu vực tương đương với tỉnh Thanh Hóa ngày nay, tạo nên một phong trào kháng chiến lan rộng ra khắp vùng Giao Châu (bao gồm phần lớn miền Bắc Việt Nam hiện nay).

    Được tin về cuộc khởi nghĩa, nhà Ngô đã cử tướng Lục Dận đem 6.000 quân tinh nhuệ từ Quảng Châu (Trung Quốc) sang đàn áp.

    Lục Dận, một tướng tài ba và mưu lược, đã thực hiện chiến thuật vừa đánh vừa mua chuộc, tìm cách chia rẽ và làm suy yếu nghĩa quân. Ông ta còn sử dụng những chiêu trò tàn ác nhằm đàn áp tinh thần chiến đấu của nghĩa quân.

    Trước thế giặc mạnh và những thủ đoạn thâm độc, nghĩa quân gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, Bà Triệu cùng nghĩa quân vẫn kiên cường chiến đấu.

    Tuy nhiên, do lực lượng và trang bị kém hơn, cuộc khởi nghĩa dần bị đàn áp. Trước tình thế nguy cấp, Bà Triệu quyết không đầu hàng, bà anh dũng hy sinh trên núi Tùng, Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa, khi mới 23 tuổi.

    Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công, nhưng sự hy sinh anh dũng của Bà Triệu đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng dân tộc. Bà trở thành biểu tượng bất khuất của lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh quật cường, mãi mãi được người dân Việt Nam kính trọng và tưởng nhớ.

    Hình ảnh Bà Triệu cưỡi voi một ngà ra trận, thể hiện khí phách và lòng dũng cảm, đã đi vào lịch sử như một trong những biểu tượng sáng ngời của dân tộc Việt Nam.

    Giá trị lịch sử và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

    Giá trị lịch sử và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

    Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, diễn ra vào năm 248, là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

    Dưới sự lãnh đạo của Triệu Thị Trinh, hay Bà Triệu, cuộc khởi nghĩa không chỉ làm rung chuyển chính quyền đô hộ nhà Ngô mà còn đánh thức ý chí đấu tranh của nhân dân, tạo tiền đề cho những cuộc khởi nghĩa sau này, đặc biệt là khởi nghĩa của Lý Bí vào năm 542, mở đầu cho triều đại Vạn Xuân.

    Đây là một trong những cuộc nổi dậy tiêu biểu, mạnh mẽ và quy mô nhất trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai. Khởi nghĩa Bà Triệu bùng nổ trong bối cảnh nhà Ngô đang có lực lượng hùng mạnh với khoảng 6.000 quân tinh nhuệ dưới sự chỉ huy của tướng Lục Dận, đồng thời áp đặt nhiều chính sách đồng hóa tàn bạo.

    Cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn nửa năm, làm chao đảo chính quyền đô hộ, dù cuối cùng bị đàn áp nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm về lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân.

    Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu là sự kết tinh của chặng đường đấu tranh không ngừng nghỉ của nhân dân Việt Nam. Nó để lại những bài học quý báu về tổ chức lực lượng, phương thức đấu tranh và lòng dũng cảm.

    Hình ảnh Bà Triệu cưỡi voi một ngà, mặc áo giáp vàng, dẫn dắt nghĩa quân chiến đấu trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và khí phách anh hùng, mãi mãi khắc sâu trong lòng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa không chỉ thể hiện lòng yêu nước mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ sau trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

    Các di tích lịch sử liên quan đến Bà Triệu như đền thờ, lăng mộ ở Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa, vẫn được người dân kính trọng và gìn giữ đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về một giai đoạn hào hùng trong lịch sử dân tộc.

    Khám phá di tích lịch sử đền thờ Bà Triệu

    Khám phá di tích lịch sử đền thờ Bà Triệu

    Đền thờ Bà Triệu, được vua Lý Nam Đế xây dựng vào thế kỷ VI, là một công trình lịch sử quan trọng để tưởng nhớ Triệu Thị Trinh – nữ tướng anh hùng đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô vào năm 248.

    Nằm trên ngọn núi Gai, thuộc làng Phú Điền, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, đền Bà Triệu mang kiến trúc đặc trưng của Bắc Trung Bộ, tạo nên một không gian trang nghiêm và linh thiêng.

    Đền Bà Triệu không chỉ là nơi tưởng nhớ công lao to lớn của Bà Triệu mà còn là kho tàng lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, bao gồm tượng đồng, bia đá và các hiện vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Những tài liệu, ca dao, huyền thoại về Bà Triệu được khắc ghi và truyền lại qua các thế hệ, giúp du khách hiểu rõ hơn về lịch sử hào hùng của dân tộc.

    Hàng năm, đền Bà Triệu là nơi tổ chức Lễ hội Thanh Hóa, diễn ra từ ngày 21 đến 24 tháng 2 âm lịch, thu hút hàng ngàn du khách và người dân địa phương.

    Lễ hội bao gồm các hoạt động văn hóa truyền thống như rước kiệu, tế lễ, và các trò chơi dân gian, thể hiện lòng kính trọng và niềm tự hào về lịch sử dân tộc. Lễ hội cũng là dịp để người dân tưởng nhớ và tri ân Bà Triệu, người đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

    Đền thờ Bà Triệu là biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất. Nơi đây không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà còn là nguồn cảm hứng vô tận cho lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh của người Việt Nam.

    Việc bảo tồn và phát huy giá trị của đền thờ Bà Triệu là trách nhiệm và niềm tự hào của người dân Thanh Hóa, góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

    Cuộc đời và sự nghiệp của Bà Triệu là một minh chứng sống động cho lòng dũng cảm, ý chí kiên cường và tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu không chỉ là một trang sử hào hùng mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau. Hy vọng rằng, qua bài viết này trên yeulichsu.edu.vn, bạn đọc sẽ hiểu rõ hơn về giá trị lịch sử và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, từ đó càng thêm trân trọng và tự hào về truyền thống đấu tranh kiên cường của cha ông ta. Hãy tiếp tục theo dõi Yeulichsu.edu.vn để cập nhật thêm nhiều thông tin bổ ích về lịch sử Việt Nam.

    NHÂN VẬT LỊCH SỬ: NGÔ QUYỀN

    Lịch sử của chúng ta chứa đựng những thước phim hùng vĩ với những trận chiến oanh liệt và tinh thần kiên cường, sự đấu tranh của hàng nghìn anh hùng và nhà lãnh đạo dũng cảm. Trong số họ, Ngô Quyền nổi lên như một người lãnh đạo tài ba, mở ra cho đất nước mình một thời kỳ độc lập tự chủ, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc Thuộc.

    Ngô Quyền, người sinh năm 898; Trận chiến đặc biệt của Ngô Quyền, nổi bật nhất trong lòng người dân, là cuộc đối đầu trên sông Bạch Đằng. Bằng cách cắm cọc xuống dòng sông, sau đó dùng thuyền nhẹ khiêu chiến và mời quân Nam Hán đuổi theo. Khi thuyền địch đã rơi vào mê cung cọc, nước triều rút và cọc nhô lên, tạo nên một chiến lược kỳ diệu. Ngô Quyền khai thác thời cơ này, tiến quân ra đánh và đánh bại địch. Quân Nam Hán không kịp phản ứng, toàn bộ thuyền đều bị mắc kẹt và chìm xuống, khiến đối phương chết đuối hơn một nửa. Nhờ vào trận chiến tinh thần này, đất nước Việt Nam đã giải phóng bản thân khỏi ách Bắc thuộc kéo dài gần 1000 năm, mở ra một trang mới trong lịch sử độc lập của quê hương. Cách mà Ngô Quyền triển khai cuộc chiến là độc đáo và đầy mới mẻ.

    Đến ngày nay, tưởng nhớ và tri ân Ngô Quyền vẫn là một phần không thể thiếu trong tâm trí của nhân dân Việt Nam. Ông đã có công lớn với đất nước, với lịch sử, và với sự vững mạnh của xã hội ngày nay.

     Ông Phạm Văn Tứ, gốc người Đàng ngoài (1), theo gia đình vô Nam vào khoảng nửa đầu thế kỷ 18, định cư ở thôn Định An (Định Yên), huyện Đông Xuyên, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc hai xã Định Yên, Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

    Tương truyền, khi bị quân Tây Sơn truy tầm, có đoàn thuyền chúa Nguyễn Ánh chạy lánh nạn qua con rạch để tìm đường qua sông Hậu, thì thuyền bị vô nước, phải kéo lên bờ để trét chai và lấp vò, rồi mới đi tiếp được. Nơi ấy, về sau có địa danh là “Lấp Vò” (?).

    Cũng tại đây, ông Phạm Văn Tứ nhờ có sức  mạnh phi thường, lại thêm võ nghệ cao cường nên được thu nhận làm bộ hạ dưới trướng của chúa Nguyễn, cùng thời với ông Lê Văn Duyệt.

    Nhờ lập được nhiều công trận, ông Phạm Văn Tứ được phong Tham Tán Quân Vụ Thần Sách Quân Hổ Oai - Khinh Xa Đô Úy. Do vậy, ông được dân chúng tôn kính gọi là ông THAM THẦN TỨ (2). Làm quan chẳng được bao lâu, ông xin lui về khẩn hoang, lập ấp.

    Thuở ấy, vùng đất Định An - Định Yên hãy còn hoang vu, rừng rậm um tùm, thú dữ dẫy đầy. Dân trong vùng mỗi khi vô đìa bắt cá, vô rừng đốn củi, thường bị hùm beo sát hại, khiến ai cũng khiếp đảm chẳng dám đi xa. Không thể ngồi yên nhìn dân chúng khốn khổ, ông Tham Thần Tứ ra tay diệt thú dữ, trừ hại cho dân. Khi gặp cọp, ông đánh đuổi chúng bằng tay không. Từ đó, bầy cọp beo trong vùng, hễ nghe thấy ông thì khiếp sợ, kinh hoàng bỏ chạy… Nhờ vậy, dân trong làng ngày càng mở mang, khai khẩn thêm ruộng đất, có được cuộc sống an lành. Mỗi khi cọp xuất hiện, dân chúng đều đồng thanh hô: “Bớ ông Tham Thần ! có cọp ! có cọp!....” thì chẳng những một con cọp mà cả bầy cọp cũng hoảng sợ bỏ chạy vô rừng. (3)

     


    (1) Theo ông Phạm Minh Tâm, sanh năm 1928, là hậu duệ của họ Phạm, thì ông Phạm Văn Tứ người gốc huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam Định. Hiện ở  ấp An Lạc, xã Định An ( Lấp Vò) còn khu mộ cổ xây bằng đá ong Biên Hòa rộng mỗi cạnh chừng 14m, đó là mộ Tổ mẫu và Chánh thất; gần đó là các mộ của tử tôn, tằng huyền của ông Phạm Văn Tứ…

    (2) Cũng có khi do kiêng kỵ gọi tên húy người có chức tước, người ta còn gọi chệch đi : ông Tham Thần Tướng (Tướng là vì ông là quan võ chứ không phải là quan văn)

    (3) Trong vùng còn truyền tụng: Đìa Hổ giảo là nơi cọp thường bắt người đến đây ăn thịt, không một ai dám bén mảng đến nơi này. Xưa ở xép Bà Vạy có một nông dân vô đìa bắt cá, bị hổ vồ, người nông dân này cố chạy, nhưng vì gai góc, dây mây …mắc vướng cả búi tóc trên đầu ! May nhờ có người tri hô “Kêu bớ ông Tham Thần !...” nên hổ sợ bỏ chạy trốn vô chùa Giồng Kè. Ông sư trong chùa lấy đệm đậy hổ lại. Ít hôm sau hổ mang đến sau chùa một con heo rừng đền ơn cứu tử (?!). Lại có chuyện kể: Ông Tham Thần Tứ có “Nhãn lực siêu nhân”, mỗi khi ông nhìn thẳng vào ai, người đó phải khiếp đảm, rụng rời. Những vụ kiện tụng trong làng, ông xử  án công minh, trước cặp mắt thần lực nhìn thẳng của ông, kẻ gian phải thú nhận tội lỗi, sai trái của mình. Có lần, một đứa trẻ hái trái trên cây, ông tình cờ đi dạo đến, nghe tiếng động, ông nhìn thẳng lên cây, đứa bé kinh hãi buông tay rớt xuống nhưng được ông kịp thời nhãy đến ôm gọn trong tay, sợ trẻ thơ phải chết oan hoặc thương tật vì cái nhìn của mình. Một chuyện khác được kể là trước khi theo chúa Nguyễn, trong vùng có tên “Cai Ghẹ” dựa thế quan phủ ức hiếp dân làng, tự kiêu cho là võ nghệ của mình không ai bằng. Ông Phạm Văn Tứ ra tay thách đấu với Cai Ghẹ bằng giao ước: “Hễ ai chết không được thường mạng”. Chỉ một hiệp đấu, bằng vài thế võ bí hiểm, ông TỨ đã hạ địch thủ mạng vong….

    Lý Thường Kiệt (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị Đại Việt thời Lý. Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý, bên cạnh Lê Phụng Hiểu.[1]

    Trong lịch sử Việt Nam, ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. Đặc biệt, trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của ông vang dội ra khỏi Đại Việt và được biết đến ở đất Tống.

    Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch liệt ông vào một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.[2]

    Thân thế

    Dòng dõi

    Ông vốn là người phường Thái Hòa (太和坊) của thành Thăng Long, theo Hoàng Xuân Hãn thì Thái Hòa cũng là tên một núi nhỏ ở phía Tây trong thành Thăng Long, bây giờ, ở phía nam đê Bách Thảo, gần chỗ rẽ xuống trường đua ngựa. Họ gốc của Lý Thường Kiệt vốn không phải họ Lý, vì ông được ban quốc tính[3] mới được mang họ Lý. Họ gốc của ông, hiện có hai thuyết lớn gây tranh cãi:

    • Họ Ngô: thuyết này dựa theo "Phả hệ họ Ngô Việt Nam" cùng "Thần phổ Lý Thường Kiệt" do Nhữ Bá Sĩ soạn vào thời nhà Nguyễn. Theo cứ liệu này, nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Sứ quân Ngô Xương Xí và chắt của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập – con trai trưởng của Ngô Quyền.[4] Thuyết này được nhìn nhận phổ biến nhất, tuy nhiên lại bị xem là "thuyết mới", vì thời gian của cứ liệu đều còn non, một cuốn phả hệ không rõ nguồn gốc và một thần phổ soạn vào tận thời Nguyễn.

  • Họ Quách: thuyết này dựa theo bia "An Hoạch Báo Ân tự bi ký" (lập năm 1100)[5][6] và bia "Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự" (lập năm 1159), đây đều là hai bia gốc thời nhà Lý. Theo thông tin của cả hai bia, thì Lý Thường Kiệt vốn họ Quách, tên Tuấn, biểu tự Thường Kiệt. Theo thông tin của bia, quê ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày nay), và có lẽ sau này mới cải tịch thành phường Thái Hòa như Toàn thư ghi nhận. Cha ông theo Đại Việt sử lược chép là Thái úy Quách Thịnh Ích (郭盛謚), còn An Nam chí lược thì chép là Thái úy Quách Thịnh Dật (郭盛溢),[7] quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên). Sau được Hoàng đế ban quốc tính, vì vậy Quách Tuấn mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy Đỗ Anh Vũ, thì cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột.[8]

  • Tư liệu chuông «An Xá tự chung» (1690)

    Chuông «An Xá tự chung» (1690) tại chùa Phúc Xá (Bắc Biên), phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội – Bảo vật Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 3/2/2026.

    Ngoài hai thuyết họ Ngô và họ Quách, một nguồn tư liệu thành văn quan trọng là minh văn khắc trên quả chuông đồng «An Xá tự chung» (安舍寺鐘), hiện lưu giữ tại chùa Phúc Xá (Bắc Biên), phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội. Chuông đúc năm Canh Ngọ, niên hiệu Chính Hòa thứ 11 (1690) đời vua Lê Hy Tông, ghi lại 9 sắc chỉ của các chúa nhà Trịnh từ thế kỷ XVII. Đây là tư liệu thành văn sớm hơn bia Nhữ Bá Sĩ (soạn thời Nguyễn) — một trong hai cứ liệu chính của thuyết họ Ngô. Trong minh văn chuông có đoạn ghi rõ:

    Cơ nghiệp của bản châu là đất tổ của quan Trung thư Xá nhân Trung thư giám Đình úy sứ Quản châu hầu được ban quốc tính Lý Thường Kiệt, thụy Quảng Châu phủ quân. Lấy phúc điền lập làm đất tổ. Trước ngày, nước Đại Việt ta, từ khi triều Lý lập kinh đô, trải đến thời vua Lê Thái Tổ đều có sắc chỉ, chuẩn cho miễn trừ mọi khoản đóng góp theo như lệ từ trước.

    Đoạn minh văn này xác nhận: vùng đất làng An Xá (châu Cơ Xá, nay là thôn Bắc Biên, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên) chính là đất tổ nghiệp của Lý Thường Kiệt, và cộng đồng dân cư nơi đây từng canh tác phụng thờ trên mảnh đất ấy từ thời nhà Lý. Minh văn cũng xác nhận ông được ban quốc tính họ Lý — phù hợp với cả hai thuyết họ Ngô và họ Quách.

    Với 5.510 chữ Hán, chuông «An Xá tự chung» là kỷ lục số lượng chữ khắc trên chuông đồng cổ ở làng xã người Việt còn lưu giữ được. Chuông được công nhận là Bảo vật Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 3 tháng 2 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ.

    Sử sách Trung Quốc thường chép [Thường Kiệt] là Lý Thường Cát hoặc Lý Thượng Cát.[9][10] Trong gia đình, ông có một người em tên Lý Thường Hiến (李常憲).

    Gia thế

    Theo nhận xét của sách Đại Việt sử ký toàn thư, nhà của ông nối đời làm quan theo thức thế tập,[11] tức là truyền chức này vĩnh viễn qua các đời, do đó có thể thấy gia đình của ông là một nhà quan lại có gốc gác bền vững. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.[12]

    Cũng do hai nguồn khác nhau, nên chức vụ cha của Lý Thường Kiệt cũng khác nhau. Sách Việt điện u linh tập cùng với [nguồn họ Ngô] đều ghi cha của Lý Thường Kiệt tên An Ngữ, và là một "Sùng ban Lang tướng". Còn như [nguồn họ Quách] thì Lý Thường Kiệt là con của Quách Thịnh Ích, là một Thái úy, do đó vị thế có khác biệt.

    Bia Nhữ Bá Sĩ chép về hành trạng thời trẻ có phần huyền thoại của Lý Thường Kiệt như sau:

    Khoảng niên hiệu Thiên Thành, đời Lý Thái Tông, cha đi tuần biên địa, ở Tượng Châu thuộc Thanh Hóa, bị bệnh rồi mất vào năm Tân Mùi (1031). Thường Kiệt bấy giờ mười ba tuổi, đêm ngày thương khóc không dứt.

    Chồng của người cô là Tạ Đức thấy thế, đem lòng thương và dỗ dành. Nhân đó hỏi ông về chí hướng, ông trả lời: "Về văn học, biết chữ để ký tên là đủ. Về võ học, muốn theo Vệ Thanh, Hoắc Khứ, lo đi xa vạn dặm để lập công, lấy được ấn phong hầu, để làm vẻ vang cho cha mẹ. Đó là sở nguyện". Tạ Đức khen là có chí khí, bèn gả cháu gái tên là Tạ Thuần Khanh cho ông, và dạy cho học các sách binh thư họ Tôn, họ Ngô.

    Thường Kiệt đêm ngày học tập. Đêm đọc sách, ngày tập bắn cung, cưỡi ngựa, lập doanh, bày trận. Các phép binh thư đều thông hiểu cả. Tạ Đức lại khuyên đọc sách nho. Thường Kiệt rất chịu gắng công học tập, nên chóng thành tài.

    Năm ông 18 tuổi (1036), mẹ mất. Hai anh em lo đủ mọi lễ tống táng. Trong khi cúng tế, hễ có việc gì, cũng tự tay mình làm. Lúc hết tang, nhờ phụ ấm, Thường Kiệt được bổ chức "Kỵ mã hiệu úy", tức là một sĩ quan nhỏ về đội quân cưỡi ngựa.

    — Trích từ bia Nhữ Bá Sĩ, bản dịch từ sách "Lý Thường Kiệt" của Hoàng Xuân Hãn

    Học giả Hoàng Xuân Hãn khi trích lại nội dung từ bia Nhữ Bá Sĩ, cũng có nhận xét: "Đoạn trên này, chép theo bia NBS, là một bia mới dựng đời Tự Đức. Chắc rằng Nhữ Bá Sĩ chép theo thần phổ. Thần phổ phần nhiều là lời chép tục truyền hay lời bịa đặt, ta không thể hoàn toàn tin những chi tiết quá rõ ràng chép trong thần phổ. Nhưng sự giáo dục Thường Kiệt kể trên đây là hợp với những điều ta còn biết về đời nhà Lý".

    Sự nghiệp

    Dưới triều Thái Tông và Thánh Tông

    Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam Quốc Tự.

    Năm 1041, Thường Kiệt còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn Chi hậu (黄门祗候), một chức hoạn quan theo hầu Lý Thái Tông. Trong 12 năm làm nội thị trong triều, danh tiếng của Thường Kiệt ngày càng nổi.[13] Năm 1053, ông được thăng dần đến chức Nội thị sảnh Đô tri (内侍省都知), khi năm 35 tuổi.

    Năm 1054, Thái tử Lý Nhật Tôn kế vị, sử gọi là Lý Thánh Tông. Dưới triều Thánh Tông, Thường Kiệt lên chức Bổng hành quân Hiệu úy, một chức quan võ cao cấp. Ông thường ngày ở cạnh vua, thường can gián. Vì có công lao, ông được thăng làm Kiểm hiệu Thái bảo.[14]

    Năm 1061, người Man ở biên giới Tây Nam quấy rối. Sách Việt điện u linh, chuyện về Lý Thường Kiệt có chép: "Gặp lúc trong nước, ở cõi Tây Nam, dân nổi lên chống các thuộc lại, dân Man Lào lại hay tới quấy rối. Vua thấy ông siêng năng, cẩn thận, khoan hồng bèn sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, vào trao quyền tiện nghi hành sự. Ông phủ dụ dân khôn khéo, nên tất cả năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi bốn động đều quy phục và được yên ổn".

    Tháng 2 năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Thường Kiệt làm tiên phong đi đầu, truy bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Cuối cùng, Chế Củ phải chịu hàng, dâng 3 châu để được tha về nước. Vì có công trong cuộc chiến với Chế Củ, Thường Kiệt được ban quốc tính và từ đó ông chính thức được gọi là Lý Thường Kiệt. Bên cạnh vinh dự này, ông còn được hưởng tước và chức đáng kể, được thụ phong làm Phụ quốc Thái phó (輔國太傅), kiêm các hàm như Dao thụ chư trấn Tiết độ (遙授諸鎮節度), Đồng trung thư môn hạ (同中書門下), Thượng trụ quốc (上柱國), Thiên tử nghĩa đệ (天子義弟) cùng Phụ quốc thượng tướng quân (輔國上将軍).

    Với danh xưng "Thiên tử nghĩa đệ", Lý Thường Kiệt đã bán chính thức dự vào hàng quốc thích, và ông còn nhận được tước Khai quốc công (開國公).

    Phụ chính Lý Nhân Tông

    Năm 1072 Lý Thánh Tông qua đời, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, sử gọi là Lý Nhân Tông. Thái sư đầu triều là Lý Đạo Thành tôn Hoàng hậu Dương thị làm Hoàng thái hậu, buông rèm cùng nghe chính sự. Mẹ đẻ của Nhân Tông là Thái phi Ỷ Lan không được dự vào việc triều đình, bèn dựa vào Lý Thường Kiệt để nắm lấy quyền nhiếp chính. Lý Thường Kiệt khi đó làm Đô úy, chức vụ ở dưới Lý Đạo Thành.

    Tháng 6 năm 1072, tức là 4 tháng sau khi Nhân Tông lên ngôi, Nhân Tông ra chỉ phế truất Thượng Dương Thái hậu, giam Thái hậu cùng 72 Thị nữ trong lãnh cung và bắt chôn theo Thánh Tông. Sau đó, Lý Đạo Thành bị giáng chức làm "Tả Gián nghị đại phu" và bị biếm truất ra trấn thủ Nghệ An. Hoàng thái phi Ỷ Lan chính thức được tôn làm Hoàng thái hậu. Từ đó Lý Thường Kiệt giữ vai trò phụ chính trong triều đình Đại Việt.

    Chiến tranh với Tống

    Tiên phát chế nhân

    Bài chi tiết: Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076

    Tập tin:Map Dai Viet danh Tong.jpg

    Bản đồ minh họa các mũi tiến công chinh phạt Ung Châu.

    Năm 1075, Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt.

    Thái hậu Ỷ Lan biết tin, sai ông và Tôn Đản đem hơn 100.000 quân đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do các tướng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc,[15] Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tôn Đản.

    Lý Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân thủy cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Đại Việt tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân nhà Tống mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu cũng thất thủ.[16]

    Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay thuộc thành phố Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.

    Tri châu Ung là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Đại Việt.[17] Thường dân trong thành không chịu hàng nên bị quân nhà Lý giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.000,[17] tuy nhiên quân Đại Việt cũng tổn thất đến 10.000 người và nhiều voi chiến.[18]

    Lý Thường Kiệt chiếm xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.

    Phòng thủ sông Như Nguyệt

    Bài chi tiết: Trận Như NguyệtPhòng tuyến sông Như Nguyệt

    Do tiền đồn ở Ung Châu là căn cứ tập trung quân để nam tiến bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt.

    Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng quân Chiêm Thành và Chân Lạp không dám tiến vào Đại Việt.[19] Quân Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu.

    Hoàng đế Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạn cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ.

    Cùng lúc đó, thủy binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên điều động, chặn đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Đại Việt tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ tinh thần quân Nam chiến đấu. "Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không đánh đã tan".[20]

    Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu. Quân Đại Việt lại tập kích, doanh trại của Phó tướng Triệu Tiết bị phá, dù quân Tống cũng giết được hai tướng Đại Việt là Hoàng Chân và Chiêu Văn.[17] Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7 phần.

    Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Việt bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin "nghị hòa" để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân.

    Chiến tranh với Chiêm Thành

    Xem thêm: Chiến tranh Việt-Chiêm 1069

    Nhà Lý màu vàng, Chiêm Thành màu xanh lá cây, Nhà Tống màu xám, Angkor màu tím.

    Dưới thời Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt đã tham gia cuộc tấn công Chiêm Thành năm 1069. Ông cầm quân truy đuổi và bắt được vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman 4).

    Dưới thời Lý Nhân Tông, ngoài việc cầm quân đánh Tống, ông còn tiến công Chiêm Thành vào năm 1075 nhưng không thu được thắng lợi.

    Năm 1104, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113) đem quân đánh và lấy lại 3 châu Địa Lý mà vua Chế Củ đã cắt cho Đại Việt. Đến đây, Lý Thường Kiệt một lần nữa kéo quân đi đánh, phá tan quân Chiêm, Chế Ma Na lại nộp đất ấy cho Đại Việt.

    Cuối đời

    Năm 1082, ông thôi chức Thái úy và được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời, đến năm 1101 thì vua Lý Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lại chức Nội thị phán thủ đô áp nha hành điện nội ngoại đô tri sự. Lúc này ông đã 82 tuổi.

    Già rồi, nhưng ông vẫn tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn Châu (năm 1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104). Ông còn tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân.

    Tháng 6 năm Ất Dậu (1105), Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 86 tuổi. Lý Nhân Tông truy phong ông làm Nhập nội điện đô tri Kiểm hiệu Thái úy bình chương Quân quốc trọng sự (入内殿都知檢校太尉平章軍國重事), tước Việt quốc công (越國公), thực ấp 10.000 hộ và cho người em là Lý Thường Hiến được kế phong tước Hầu.

    Thân thế Hoạn quan

    Nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn

    Có một tranh cãi rất lớn về thông tin Lý Thường Kiệt là hoạn quan. Một số ý kiến cho rằng, "hoạn quan" là [Sĩ hoạn; 仕宦], tức là "người thuộc tầng lớp làm quan" để ám chỉ xuất thân nhà làm quan của ông, và phủ định việc Lý Thường Kiệt là hoạn quan. Tuy nhiên, theo dẫn chứng của Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt đúng là một hoạn quan, và rất có thể ông đã tự hoạn mình để có thể đạt được danh tiếng trên con đường sự nghiệp của mình.

    Phần "Vào cấm đình" thuộc Chương I: Gốc tích của Hoàng Xuân Hãn đưa ra rất nhiều bằng chứng về vấn đề này:

    Năm lên 23 tuổi, là năm Tân Tỵ (1041), niên hiệu Can Phù Hữu Đạo đời Lý Thái Tông, ông (Lý Thường Kiệt) được bổ vào ngạch thi vệ để hầu vua, và sung chức Hoàng môn chỉ hậu. Chức này là một chức hoạn quan.

    Như trên đã nói, ông cưới vợ mấy năm về trước.[21] Thế thì, vì lẽ gì ông lại tĩnh thân để làm quan hoạn? Về việc này có nhiều thuyết.

    Bia LX dựng đời Lý,[22] chỉ nói tóm tắt rằng: "Lúc ông còn nhược quán, được cử vào cấm thát hầu Thái Tông hoàng đế". Sách VĐƯL đời Trần,[23] chép rằng: "Vì ông có dáng mặt đẹp, nên mới tĩnh thân mà sung vào chức Hoàng môn chỉ hậu". Theo hai sử liệu xưa trên, thì ông tự yếm mà làm quan hoạn.

    Lý Thường Kiệt đã tự yếm; đó là một sự thật, vì tuy thần tích có nói ông đã lấy vợ, mà sau, sử ta cũng như sách Mộng khê bút đàm của người Tống đều nói ông là một hoạn quan. Thuyết nói ông vì can vua mà bị nhục hình, thì chắc sai.

    Thuyết sau có lý hơn. Hoạn quan xưa nay nhiều quyền thế, vì thường ngày được ở cạnh vua. Nhất là từ đời Đường, hoạn quan lại càng được thế. Vì những lẽ ấy, đời sau lắm kẻ tự tĩnh thân để được chọn. Đối với Lý Thường Kiệt, có đặc biệt hơn là được vua ban tiền và sai làm. Ông nghe lời. Bấy giờ ông 23 tuổi.

    Ông vào cấm thát. "Chưa được một kỷ (12 năm), tiếng nổi nội đình" (bia LX). Được thăng nhiều lần, lên đến chức Đô tri, ông coi tất cả mọi việc trong cung (VĐUL và bia NBS). Năm Lý Thánh Tông lên ngôi (1054, ông 36 tuổi), vì đã có công phù dực, ông được thăng chức Bổng hành quân hiệu úy, tức là một chức võ quan cao cấp. Hằng ngày, ông hầu cận bên vua, hiến việc tốt, can việc xấu, giúp vua hết mọi cách. Vì cần lao giúp rập, nên được cất lên chức Kiểm hiệu thái bảo (bia LX), tức là một chức tại triều rất cao.

    — Phần "Vào cấm đình" của Chương I: Gốc tích của sách Lý Thường Kiệt, tác giả Hoàng Xuân Hãn.

    Sách sử ghi nhận

    Hầu hết các sách sử Việt Nam xuất hiện từ thời Lê sơ cùng nhà Nguyễn, và khi chép về Lý Thường Kiệt cũng đã xác nhận ông là một hoạn quan, hay gọi là Quan giám. Cụ thể như sau:

    • Việt điện u linh tập - Thái úy Trung Phụ Dũng Vũ Uy Thắng công: "Ông nhiều mưu lược, có tài tướng soái, lúc nhỏ phong tư tuấn nhã, có tiếng khen ra ngoài, được sung làm chức Hoàng Môn Ký Hầu... Tiếm bình: Lý Thái úy là một quan Trung Thường Thị... ai bảo trong phường quan Giám lại không có nhân vật xuất sắc như thế, công nghiệp vĩ đại như thế!"

  • Đại Việt sử ký toàn thư - Trần triều Thái Tông hoàng đế bản kỷ: "Vua muốn trao cho chức Hành khiển, nhưng thấy khó, mới cho 400 quan tiền bảo tự hoạn, ban tên là Ứng Mộng. Sau này thăng dần đến chức Hành khiển. Đó là bắt chước lệ cũ của triều Lý, dùng Lý Thường Kiệt và Lý Thường Hiến vậy".

  • Đại Việt sử ký tiền biên - Lý triều Nhân Tông hoàng đế bản kỷ: "Lý Thường Kiệt nhiều mưu lược có tài làm tướng. Khi còn ít tuổi, vì có tướng mạo đẹp, tự thiến sung chức Hoàng môn chi hậu..."

  • Lịch triều hiến chương loại chí: "Lúc trẻ dáng điệu bảnh bao, tự thiến mình, được sung chức Hoàng môn chi hậu".

  • Khâm định Việt sử thông giám cương mục: "Nhà vua bắt Phạm Ứng Mộng tự thiến mình để vào hầu trong cung cấm... Việc này có lẽ bắt chước như việc dùng Lý Thường Kiệt, Lý Thường Hiến ở triều nhà Lý".

  • Đại Nam thực lục - lời bàn của vua Minh Mạng: "Lý Thường Kiệt nhà Lý tuy ưu việt về phần võ lược, nhưng xuất thân từ hoạn quan".

  • Bài thơ Nam quốc sơn hà

    Bài chi tiết: Nam quốc sơn hà

    Nam quốc sơn hà là bài thơ chưa rõ nguồn gốc tác giả mà nhiều tài liệu dân gian cho là của ông đang đêm sai người tâm phúc đọc vang trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát (thuộc địa phận sông Như Nguyệt, khúc sông Cầu, huyện Yên Phong, lộ Bắc Ninh, nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Bài thơ được coi là một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt chống lại quân Tống lần thứ 2.

    Bản gốc

    Nguyên bản chữ Hán:

    南國山河

    南 國 山 河 南 帝 居

    截 然 定 分 在 天 書

    如 何 逆 虜 來 侵 犯

    汝 等 行 看 取 敗 虛

    Bản phiên âm Hán-Việt:

    Nam quốc sơn hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

    Bản dịch thơ của Trần Trọng Kim:

    Sông núi nước Nam

    Sông núi nước Nam vua Nam ở,

    Rành rành định phận tại sách trời.

    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

    Nhận định

    Cơ Xá Linh Từ - đền thờ Lý Thường Kiệt - ở phố Nguyễn Huy Tự phường Bạch Đằng (đất làng Cơ Xá cũ) quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

    Trong Bài bia ký chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường ca ngợi Lý Thường Kiệt:

    Nay có Thái úy Lý công, giúp vua thứ tư triều Lý... Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà Hán có công huân Hàn, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Án. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy.

    — Chu Văn Thường

    Bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn cũng ca ngợi ông:

    Làm việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả.



  • Nhận trình báo của cụ ông Phạm Văn Toản SN 1954, công an lập tức vào cuộc điều tra số tiền 70 triệu đồng

    Hải Châu 23/05/2026 20:34

    Ngay sau khi tiếp nhận thông tin từ người dân, lực lượng chức năng đã khẩn trương tiến hành xác minh.

    Mới đây, tại trụ sở Công an phường Sơn Nam (tỉnh Hưng Yên), ông Phạm Văn Toản (SN 1954, trú tại phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên) đã tự nguyện hoàn trả số tiền do chị Vũ Thị Hà (SN 1984, trú tại phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên) chuyển khoản nhầm. Việc trao trả được thực hiện công khai, minh bạch dưới sự chứng kiến của cán bộ Công an phường Sơn Nam.

    Trước đó, trong quá trình thực hiện giao dịch ngân hàng, chị Hà sơ suất chuyển nhầm 70 triệu đồng vào tài khoản của ông Toản. Sau khi phát hiện sự việc, ông Toản đã chủ động liên hệ với ngân hàng và trình báo cơ quan công an để được hỗ trợ xác minh, tìm người chuyển tiền.

    Ảnh 1(12)

    Ông Phạm Văn Toản trao trả số tiền chuyển khoản nhầm cho chị Vũ Thị Hà trước sự chứng kiến của Công an phường Sơn Nam. Ảnh: CACC

    Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, Công an phường Sơn Nam đã tiến hành xác minh, liên hệ với chị Hà để làm rõ nội dung vụ việc. Sau khi kiểm tra và xác nhận số tiền được chuyển nhầm, ông Toản đã phối hợp với cơ quan chức năng để hoàn trả đầy đủ số tiền cho chị Hà.

    Tại buổi làm việc, dưới sự chứng kiến của cán bộ công an, ông Toản trực tiếp rút tiền và trao lại cho chị Hà. Nhận lại tài sản, chị Hà bày tỏ sự xúc động, đồng thời gửi lời cảm ơn đến ông Toản cùng lực lượng Công an phường Sơn Nam đã hỗ trợ giải quyết vụ việc nhanh chóng, đúng quy định.

    Theo Công an phường Sơn Nam, hành động của ông Toản thể hiện tinh thần trung thực, trách nhiệm trong cộng đồng. Đồng thời, vụ việc cũng cho thấy vai trò hỗ trợ của lực lượng công an cơ sở trong việc tiếp nhận, xác minh và xử lý các sự cố liên quan đến giao dịch tài chính của người dân.

    Qua vụ việc, Công an phường Sơn Nam khuyến cáo người dân cần cẩn trọng khi thực hiện các giao dịch chuyển khoản điện tử, kiểm tra kỹ thông tin người nhận trước khi xác nhận giao dịch nhằm hạn chế những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra.

    ịch sử dân tộc Việt Nam ghi dấu nhiều vị anh hùng kiệt xuất, nhưng Trần Hưng Đạo là một trong những nhân vật được nhân dân kính trọng nhất bởi tài cầm quân và tấm lòng đặt lợi ích của đất nước lên trên mọi lợi ích cá nhân. Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh vào thế kỷ XIII. Cha ông là Trần Liễu, người từng có mâu thuẫn với vua Trần Thái Tông do những biến cố trong hoàng tộc. Trước khi qua đời, Trần Liễu từng dặn con phải giành lại ngôi vua. Đó là một lời trăng trối đầy nặng nề, đặt Trần Quốc Tuấn trước sự lựa chọn giữa thù riêng của gia tộc và vận mệnh của quốc gia. Khi quân Nguyên – Mông nhiều lần đem quân xâm lược Đại Việt, Trần Quốc Tuấn không nghĩ đến lời dặn của cha mà một lòng phò tá triều đình nhà Trần. Ông được giao trọng trách chỉ huy quân đội, chuẩn bị lực lượng, đoàn kết các tướng lĩnh và nhân dân để chống giặc ngoại xâm. Trong những năm 1258, 1285 và 1287–1288, quân dân Đại Việt đã ba lần đánh bại đội quân Nguyên – Mông hùng mạnh. Đặc biệt, trong chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 1288, dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, quân ta lợi dụng quy luật thủy triều, bố trí bãi cọc ngầm và tiêu diệt phần lớn thủy quân của địch. Chiến thắng này buộc quân Nguyên phải rút lui, chấm dứt tham vọng xâm lược Đại Việt. Không chỉ là một vị tướng tài, Trần Hưng Đạo còn để lại những tư tưởng quân sự sâu sắc. Tác phẩm "Hịch tướng sĩ" của ông đã khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí chiến đấu của quân dân Đại Việt. Những lời văn đầy khí phách trong tác phẩm vẫn được nhiều thế hệ học tập như một áng văn chính luận mẫu mực. Cuộc đời của Trần Hưng Đạo là minh chứng cho tinh thần "đặt việc nước lên trên việc nhà". Ông đã gác lại thù riêng để cùng triều đình bảo vệ độc lập dân tộc. Chính đức độ, tài năng và lòng yêu nước ấy đã khiến ông trở thành biểu tượng bất diệt của lịch sử Việt Nam. Đến ngày nay, nhân dân vẫn tôn kính ông là Đức Thánh Trần, một vị anh hùng dân tộc có công lao to lớn trong sự nghiệp giữ nước.

    Lê Lợi sinh ngày 10 tháng 9 năm 1385 tại làng Lam Sơn, huyện Lương Giang, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông xuất thân trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở vùng đất này, sở hữu ruộng đất và uy tín với dân chúng trong vùng. Sau khi nhà Hồ sụp đổ năm 1407, quân Minh đặt ách cai trị lên Đại Ngu, đổi tên nước thành Giao Chỉ, thi hành chính sách bóc lột nặng nề, bắt dân cống nạp vàng bạc, hương liệu và lao dịch xây thành đắp lũy.

    Năm 1416, Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín tổ chức hội thề tại Lũng Nhai, cùng nguyện đồng lòng đánh đuổi quân Minh. Đến đầu năm 1418, ông chính thức dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn, xưng là Bình Định vương. Giai đoạn đầu, nghĩa quân gặp nhiều khó khăn, ba lần phải rút lên núi Chí Linh để tránh các cuộc vây ráp của quân Minh, có lúc lương thực cạn kiệt phải ăn rau rừng, củ nâu cầm cự.

    Bước ngoặt đến năm 1424 khi tướng Nguyễn Chích đề xuất kế sách tiến quân vào Nghệ An, nơi có địa thế hiểm trở và lực lượng quân Minh mỏng hơn. Nghĩa quân đánh chiếm thành Trà Lân, giải phóng vùng Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, rồi tiến ra Bắc, mở rộng vùng kiểm soát qua Tân Bình, Thuận Hóa. Năm 1426, nghĩa quân giành thắng lợi lớn trong trận Tốt Động - Chúc Động, tiêu diệt phần lớn viện binh của tướng Vương Thông.

    Cuối năm 1427, trận Chi Lăng - Xương Giang trở thành đòn quyết định: đạo viện binh 10 vạn quân do Liễu Thăng chỉ huy bị phục kích tiêu diệt, bản thân Liễu Thăng bị chém tại ải Chi Lăng. Vương Thông đang bị vây tại thành Đông Quan buộc phải xin giảng hòa, hai bên tổ chức hội thề Đông Quan, quân Minh rút quân về nước, chấm dứt 20 năm đô hộ.

    Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế tại Đông Kinh (Thăng Long), lấy niên hiệu Thuận Thiên, lập nên nhà Hậu Lê. Ông cho ban hành các chính sách chia lại ruộng đất theo phép quân điền, tổ chức lại bộ máy hành chính, đặt nền móng cho bộ luật Hồng Đức sau này của các đời vua kế tiếp. Ông cũng cho Nguyễn Trãi soạn Bình Ngô đại cáo, tuyên bố nền độc lập của Đại Việt.

    Lê Lợi mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu, tức năm 1433, sau 5 năm ở ngôi vua, được truy tôn miếu hiệu Lê Thái Tổ. Lăng mộ ông đặt tại khu Lam Kinh, quê hương Lam Sơn. Khu di tích lịch sử Lam Kinh ở huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa hiện là di tích quốc gia đặc biệt, nơi hằng năm vẫn tổ chức lễ hội Lam Kinh vào ngày 21-22 tháng 8 âm lịch để tưởng nhớ ngày mất của ông.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), trên tuyến Đường số 5 huyết mạch nối liền Hà Nội với Hải Phòng, Đội nữ du kích Hoàng Ngân (tỉnh Hưng Yên) đã ghi danh vào lịch sử như một lực lượng du kích nữ huyền thoại, khiến quân đội Pháp phải kinh hoàng bạt vía trước những trận đánh mưu trí và dũng cảm.

    Đội nữ du kích được thành lập năm 1948 và trân trọng mang tên đồng chí Hoàng Ngân – Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc Việt Nam đầu tiên. Đội quy tụ hàng trăm cô gái trẻ vốn là những nữ xã viên nông nghiệp, nữ sinh chân đất mò cua bắt cá tại các làng quê ven Đường 5 thuộc tỉnh Hưng Yên.

    Tuy trang bị vũ khí ban đầu hết sức thô sơ, nhưng các nữ du kích Hoàng Ngân đã sáng tạo nên nhiều phương thức đánh giặc vô cùng mưu trí. Các chị giả trang thành người đi chợ, người đi làm đồng hay bán hàng rong để tiếp cận các đồn bốt, nắm chắc quy luật đi lại của quân Pháp. Bằng những quả mìn tự chế, bom nổ chậm và bẫy chông, các chị đã liên tục phục kích, giật mìn lật đổ hàng chục đoàn xe quân sự, tàu hỏa chở sĩ quan và đạn dược của Pháp trên tuyến Đường 5.

    Không chỉ đánh giao thông, Đội nữ du kích Hoàng Ngân còn mưu trí tổ chức các trận đột nhập diệt ác trừ gian ngay trong lòng đồn giặc, vận động binh lính Ngụy buông súng ngả theo cách mạng, và kiên cường bám làng bám đất bẻ gãy nhiều đợt càn quét lớn của quân Pháp. Tên tuổi của Đội nữ du kích Hoàng Ngân đã trở thành niềm tự hào kiêu hãnh của phụ nữ vùng Đồng bằng Bắc Bộ, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Quang Trung Nguyễn Huệ, vị anh hùng dân tộc lừng danh trong lịch sử Việt Nam, không chỉ nổi bật với những chiến công oanh liệt mà còn với tài năng lãnh đạo xuất chúng. Trang web Yeulichsu.edu.vn xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết “Tóm tắt tiểu sử Quang Trung”, nhằm giúp bạn hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của vị hoàng đế vĩ đại này. Hãy cùng khám phá những sự kiện và thành tựu đáng nhớ của Quang Trung Nguyễn Huệ, người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc.

    Xuất thân của Quang Trung

    Xuất thân của Quang Trung

    Theo các tài liệu lịch sử như Đại Nam thực lục và Việt Nam sử lược, Quang Trung (tên thật là Nguyễn Huệ) là con của ông Hồ Phi Phúc, quê ở thôn Tây Sơn, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Định ngày nay). Ông sinh năm 1753, dưới triều đại vua Lê Hiển Tông. Ngoài cái tên Nguyễn Huệ, ông còn được biết đến với các tên gọi khác như Quang Bình, Văn Huệ, và Hồ Thơm.

    Nguyễn Huệ được miêu tả là một người có ngoại hình đặc biệt: tóc xoăn, da sần, mắt sáng như chớp, giọng nói sang sảng như tiếng chuông, và rất nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm. Điểm nổi bật nhất của ông là đôi mắt, “đôi mắt mà khi không có đèn thì ánh sáng từ đôi mắt soi sáng cả chiếu” (theo Quang Trung anh hùng dân tộc).

    Nguyễn Huệ cùng với anh em của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ được cha gửi gắm cho thầy Trương Văn Hiến để học hành và luyện võ, rèn luyện bản thân. Cả ba anh em đều thông minh, sáng dạ và được gọi là Tây Sơn tam kiệt. Đặc biệt, họ là những người đã phát triển môn võ Tây Sơn Bình Định.

    Nhận thấy tài năng của anh em nhà Nguyễn, đặc biệt là Nguyễn Huệ, thầy Trương Văn Hiến đã khuyên họ đứng dậy khởi nghĩa, xây dựng sự nghiệp lớn. Câu sấm “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” được truyền lại là do Trương Văn Hiến nói ra khi nhận thấy tiềm năng của chàng trai trẻ Quang Trung.

    Những thành tựu của vua Quang Trung

    Cuộc khởi nghĩa Đàng Trong – Đàng Ngoài

    Cuộc khởi nghĩa Đàng Trong – Đàng Ngoài

    Cuộc đời và sự nghiệp của vua Quang Trung nổi bật với cuộc nội chiến Đàng Trong – Đàng Ngoài. Sau khi triều đại vua Lê – chúa Trịnh và chúa Nguyễn gây chia cắt đất nước, khiến nhân dân lầm than, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, và Nguyễn Lữ đã quyết định khởi nghĩa.

    Năm 1771, ba anh em Tây Sơn bắt đầu xây dựng căn cứ và chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nguyễn Huệ (tức Quang Trung) đã hỗ trợ anh mình là Nguyễn Nhạc trong việc củng cố tiềm lực kinh tế và huấn luyện quân đội. Với tài năng và bản lĩnh của mình, Quang Trung đã nhanh chóng xây dựng một lực lượng quân sự vững mạnh. Những danh tướng đầu tiên như Nguyễn Thung, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Trương Mỹ Ngọc, Võ Xuân Hoài, và Võ Đình Tú đã góp phần làm nên danh tiếng của quân Tây Sơn.

    Năm 1773, quân Tây Sơn đánh bại quân chúa Nguyễn và kiểm soát phần lớn Nam Trung Bộ. Chỉ trong vòng bảy tháng, Quang Trung đã hoàn toàn tiêu diệt hai chúa Nguyễn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, trong khi Nguyễn Ánh được tôn lên làm chúa dưới sự giúp đỡ của quân Pháp và Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ đã nhanh chóng dẹp loạn, buộc Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm.

    Sau khi làm chủ Đàng Trong, quân Tây Sơn tiến ra Đàng Ngoài. Nguyễn Huệ nhanh chóng tiến đánh thành Thăng Long lần thứ nhất. Chúa Trịnh không thể điều khiển quân lính tại Thanh Hóa – Nghệ An và cuối cùng Trịnh Khải tự sát sau khi bị đoàn quân của Nguyễn Huệ đánh bại. Tuy nhiên, Nguyễn Nhạc không muốn tấn công Đàng Ngoài và lo sợ sự lớn mạnh của đội quân Nguyễn Huệ, dẫn đến mâu thuẫn nội bộ.

    Nhân lúc nội bộ Tây Sơn mâu thuẫn, Nguyễn Ánh đã chiếm lại thành Gia Định. Trước tình thế đó, Nguyễn Huệ quyết định xử lý phía Bắc nhằm dẹp vua Lê Chiêu Thống và Nguyễn Hữu Chỉnh. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua do Nguyễn Nhạc sức khỏe suy yếu, từ đó thống nhất đất nước.

    Cuộc chiến chống quân Thanh

    Cuộc chiến chống quân Thanh

    Để đối phó với cuộc xâm lược của quân Thanh, ngày 26/12/1788, Quang Trung quyết định tuyển quân tại Nghệ An. Ông áp dụng chính sách “cưỡng bách tòng quân”, tức cứ ba người dân thì một người phải tham gia quân đội. Nhờ vậy, quân đội nhanh chóng được tăng cường, đạt tới 100,000 lính và được chia thành năm đạo. Để nâng cao tinh thần chiến đấu của binh sĩ, vua Quang Trung tổ chức duyệt binh và tiến quân ra Bắc Hà.

    Với tốc độ hành quân thần tốc, chỉ trong một ngày, quân đội đã di chuyển từ Thanh Hóa ra đến Ninh Bình. Kế hoạch tiêu diệt quân Thanh được định vào ngày mồng 7 và ăn Tết tại thành Thăng Long. Quang Trung chia quân thành năm đạo, tấn công vào các tuyến phòng thủ của quân Thanh, làm chúng tan rã. Xác quân Thanh chất đầy thành 13 gò lớn, sau này gọi là Gò Đống Đa vì cây cỏ mọc um tùm.

    Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống phải bỏ chạy qua biên giới, quân Tây Sơn quyết định truy đuổi và dọa sẽ tiến đến tận biên giới để bắt chúng. Chỉ trong vòng sáu ngày, nhanh hơn dự kiến, Quang Trung đã đánh tan quân Thanh và giữ đúng lời hứa ăn Tết tại Thăng Long. Vào trưa mùng 5 Tết, dưới sự chào mừng nồng nhiệt của người dân, vua Quang Trung tiến vào kinh thành Thăng Long, khẳng định chiến thắng vang dội của mình.

    Chính sách cai trị của vua Quang Trung

    Chính sách cai trị của vua Quang Trung

    Là một người xuất thân từ nông dân, vua Quang Trung hiểu sâu sắc những nỗi khổ mà nhân dân phải chịu đựng. Vì vậy, ông đã thực hiện các chính sách cai trị ôn hòa, phù hợp với lòng dân.

    Quang Trung xây dựng đất nước với chủ trương “người tài là nguyên khí của quốc gia.” Ông đặc biệt chú trọng việc trọng dụng người tài, kể cả những người từng phục vụ dưới triều đại nhà Lê. Ông cũng bãi bỏ các hình thức thi cử sáo rỗng, thể hiện tầm nhìn tiên tiến của mình. Chữ Nôm được ông khuyến khích sử dụng và thúc đẩy người dân học tập.

    Ngoài ra, Quang Trung còn đẩy mạnh phát triển thương nghiệp. Với tầm nhìn xa trông rộng, ông mong muốn xây dựng một quốc gia có nền kinh tế phát triển và đời sống nhân dân ổn định.

    Trong quan hệ với Trung Quốc, Quang Trung thực hiện nhiều biện pháp ngoại giao khéo léo để tránh chiến tranh với phương Bắc, thể hiện tài năng và sự thông thái của ông trong việc giữ gìn hòa bình và ổn định cho đất nước.

    Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, để lại một bí ẩn chưa được giải mã cho đến ngày nay. Sau khi ông mất, nhà Tây Sơn cũng nhanh chóng suy tàn trong vòng 10 năm. Nguyễn Ánh, vẫn còn giữ mối hận thù, đã ra lệnh đào hài cốt của Quang Trung và dùng làm thuốc súng. Hành động này thể hiện sự tàn nhẫn vô độ của những kẻ hoàng tộc.

    Quang Trung Nguyễn Huệ là một biểu tượng của tinh thần kiên cường và trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Qua bài viết “Tóm tắt tiểu sử Quang Trung” trên yeulichsu.edu.vn, hy vọng rằng bạn đọc đã có cái nhìn tổng quan về vị hoàng đế tài ba này. Đừng quên theo dõi trang web để cập nhật thêm nhiều bài viết hấp dẫn và bổ ích về lịch sử Việt Nam.

    Trang thông tin về những đóng góp mới của Luận án của Nghiên cứu sinh Phạm Xuân Thịnh

    10 tháng 06, 20260

    CHIA SẺ:

    Tên đề tài luận án: Hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an các tỉnh, thành phố phía Nam”.

    Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm; Mã số:9380105

    Tên tác giả: Phạm Xuân Thịnh; Khóa 11 - Năm 2022

    Người hướng dẫn khoa học:

    Hướng dẫn 1: PGS TS Bùi Đức Hứa

    Hướng dẫn 2: PGS TS Đào Văn Vạn

    Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Cảnh sát nhân dân - Bộ Công an

    Những đóng góp mới của luận án:

    1.     Về mặt lý luận, học thuật

    Trên cơ sở chọn lọc, phân tích các công trình khoa học ở trong và ngoài nước đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, qua đó nhận xét, đánh giá chung về những vấn đề đã được làm rõ, những vấn đề chưa được làm rõ và xác định những vấn cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết tiếp ở cả phương diện lý luận và thực tiễn.

    Luận án đã nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận về hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra bằng hệ thống lý luận khá chặt chẽ, logic, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm của bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục; khái niệm, đặc điểm hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra; cơ sở pháp lý, nhiệm vụ, những vấn đề phải chứng minh, nguyên tắc, trình tự tổ chức và tiến hành các bước hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phân công, phân cấp và mối quan hệ phối hợp trong hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra. 2. Về mặt thực tiễn

    Luận án đã nghiên cứu khảo sát tình hình, đặc điểm có liên quan gồm: Đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế, xã hội các tỉnh, thành phố phía Nam; tình hình, đặc điểm các vụ án xâm hại tình dục do người dưới 18 tuổi thực hiện; kết quả điều tra, xử lý các vụ án xâm hại tình dục do người dưới 18 tuổi thực hiện của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an các tỉnh, thành phố phía Nam; khảo sát về tổ chức lực lượng và thực trạng hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an các tỉnh, thành phố phía Nam trong thời gian từ 2015 đến 2025 và rút ra nhận xét, đánh giá cơ bản, toàn diện về những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế.

    3. Về dự báo và giải pháp

    Luận án đã đưa ra dự báo tình hình tội phạm, những thuận lợi và khó khăn tác động đến hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an các tỉnh, thành phố phía Nam. Đồng thời, đề xuất hệ thống các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phạm tội xâm hại tình dục của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an các tỉnh, thành phố phía Nam trong thời gian tới./.

    Nguyễn Đình Quản (阮廷筦;[1] 1878 – 1910), tự Khánh Bá, là sĩ phu yêu nước trong phong trào Duy Tân.

    Thân thế

    Nguyễn Đình Quản là con trai của tú tài Nguyễn Văn Quế, nguyên quán làng Phong Niên, sau chuyển về làng Đông Dương, đều thuộc huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.[2]

    Năm 1897, ông đỗ Cử nhân[3] dưới thời vua Thành Thái, nhưng không ra làm quan mà về quê kết giao với văn thân, được người dân gọi là Ông cử Phong Niên.[2]

    Khoảng 1906–1907, ông tham gia Duy Tân hội Quảng Ngãi do Lê Đình Cẩn thành lập. Trước đó, ông cùng đồng hương Nguyễn Thụy, Trần Kỳ Phong đã ra Hà Nội để liên hệ với các sĩ phu của Đông Kinh nghĩa thục. Khi trở về, ông dựng "Trường lao động" ở làng Sung Tích (xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh) để đào tạo nhân tài cho phong trào Duy Tân.[2]

    Khoảng năm 1907–1908, do ảnh hưởng từ phong trào chống sưu thuế, phong trào Duy Tân lẫn phong trào Đông Kinh nghĩa thục đều bị đàn áp. Ông bị đày ra Côn Đảo và mất do tra tấn vào năm 1910. Đến nay mộ của ông vẫn đang bị thất lạc.[2]

    Trùng tên?

    Khoảng 1915–1917, các chí sĩ Phan Thúc Duyện, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Đình Quản lập tiệm buôn Quảng Hồng Hưng để tiếp nối tinh thần Duy Tân.[4]

    rần Quốc Toản (chữ Hán: 陳國瓚; (1267 – 1285), hiệu là Hoài Văn hầu (懷文侯), sau truy tặng tước vương, là một tông thất nhà Trần, sống ở thời kỳ trị vì của Trần Thánh Tông cùng Trần Nhân Tông. Ông nổi tiếng có công tham gia kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai.

    Câu chuyện của ông được lưu truyền trong văn hóa Việt Nam với hình ảnh "Lá cờ thêu sáu chữ vàng", dựa vào điển tích ông tự thêu lên cờ 6 chữ là "Phá cường địch, báo hoàng ân" (破強敵報皇恩 - phá giặc mạnh, báo ơn vua) để nâng cao sĩ khí cho đội quân của mình.

    Cuộc đời

    Sự tích của Trần Quốc Toản được ghi lại rất ít trong các bộ chính sử. Căn cứ Đại Việt sử ký toàn thư cùng Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vào tháng 10 năm 1282, vua Trần Nhân Tông mở hội nghị Bình Than, cùng quan viên bàn kế chống quân Nguyên. Nhà vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn nộ, tay cầm thanh kiếm, tay kia bóp nát quả cam lúc nào không hay. Sau đó Quốc Toản lui về thái ấp, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Nghĩa là phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám chống lại.[1]

    Tháng 4 năm 1285, Trần Nhân Tông sai Chiêu Thành vương (khuyết danh), Hoài Văn hầu Quốc Toản cùng tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết. Ngày 10 tháng 5 năm đó, có người về báo cho triều đình là Thượng tướng Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn, Thoát Hoan, Bình chương A Lạt phải rút chạy qua sông Lô.

    Qua đời

    Sau trận Chương Dương, sách sử không đề cập đến Trần Quốc Toản nữa. Thế nhưng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, hình ảnh Trần Quốc Toản thường được định hình là hi sinh khi còn trẻ, cho nên phần lớn tác phẩm phim truyện đều ngầm mặc định Trần Quốc Toản mất vào thời điểm trận Chương Dương diễn ra, tức là năm 1285 tính theo dương lịch.

    Xét theo ghi chép trong các chính sử của Việt Nam như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt sử tiêu án, thậm chí là các quyển sử soạn gần đây như Việt sử tân biên của Phạm Văn Sơn, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm, đều không thấy đề cập đến cái chết của Trần Quốc Toản. Riêng có Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ quyển Việt có viết: "Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương", nhưng không ghi rõ cụ thể năm nào.[2] Các tài liệu đương thời của nhà Nguyên cũng không có manh mối, trong Nguyên sử, quyển 209 phần An Nam truyện chỉ ghi: "Quan quân đến sông Như Nguyệt, thì Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh", về sau không đề cập nữa,[3] mà trong Nguyên văn loại (元文類), quyển 41 cũng chỉ viết: "Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đuổi giết".[4] Hoàn toàn không có chi tiết nào liên quan việc Trần Quốc Toản tử trận.

    Chỉ riêng sách Việt sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh, khi Ô Mã Nhi đánh vào Vân Đồn để cướp lại lương thực thì quân của Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư chống đỡ kịch liệt. Quốc Toản hăng hái cự địch, không may qua đời vào ngày (không rõ)

    Xuất thân và tuổi tác

    Về vấn đề tuổi tác, năm sinh cùng năm mất, không có chính sử đương thời nào ghi chép thống nhất. Căn cứ Toàn thư, Tiêu án cùng Cương mục, khi sự kiện Hội nghị Bình Than diễn ra, Trần Quốc Toản không được nhà vua triệu kiến vì "Còn quá trẻ" (Nguyên văn: Niên ấu 年幼), ngoài ra không có thêm chi tiết nào khác. Cả ba bộ sử đều không ghi rõ ông bao nhiêu tuổi vào thời điểm ấy. Nhưng dựa Quốc Toản chỉ mới 15 tuổi hoặc 16 tuổi khi ấy, cho nên không được dự hội nghị.

    Di sản

    • Trần Quốc Toản đã đi vào lịch sử Việt Nam với lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước, dám hi sinh mạng sống vì dân tộc của mình. Khí phách ấy đã được nói rõ trên lá cờ thêu sáu chữ vàng của ông:"Phá cường địch, báo hoàng ân" (Nguyên văn chữ Hán: 破強敵報皇恩).

  • Tên của ông được đặt cho nhiều ngôi trường tiểu học, trung học ở Việt Nam, một số con đường của các thành phố, tỉnh, huyện,... Ngoài ra, tên của ông còn được đặt cho một chiến hạm HQ-06 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

  • Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Lịch sử nước ta" có ca ngợi về Trần Quốc Toản như sau:[5]

  • Quốc Toản là trẻ có tài,

    Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,

    Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,

    Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung

    Thật là một đấng anh hùng,

    Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.

    Giới thiệu tổng quan về anh hùng Trần Can

    Anh hùng Trần Can (1931–7/5/1954) là Đại đội phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông tham gia nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt nổi bật ở Điện Biên Phủ, và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vì những chiến công xuất sắc, chiến đấu ngoan cường cho đến hơi thở cuối cùng. Một phần di vật, câu chuyện về ông hiện được lưu giữ và giới thiệu tại các nguồn tư liệu chính thống, góp phần khắc hoạ chân dung người chiến sĩ “vì nước quên thân”.

    Đồng Chí Trần Can - Đại đội phó bộ binh Trung đoàn 209

    Đồng Chí Trần Can – Đại đội phó bộ binh Trung đoàn 209

    Về quê hương và con đường nhập ngũ, Trần Can sinh ra tại xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ năm 1951. Từ thời niên thiếu, ông đã nuôi ý chí ra trận; khi trúng tuyển, ông nhanh chóng trưởng thành trong chiến đấu, nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị. Các nguồn sử liệu ghi nhận ông được tặng Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba) và Huân chương Chiến công hạng Nhất.

    Trong nhận thức lịch sử của học sinh phổ thông, “anh hùng Trần Can” thường gắn với hình ảnh lá cờ cắm trên cứ điểm Him Lam – trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3/1954). Chính hình tượng mạnh mẽ đó khiến câu chuyện về ông trở thành ví dụ điển hình khi dạy các chủ đề lịch sử hiện đại Việt Nam, lòng yêu nước, tinh thần kỷ luật và trách nhiệm tập thể.

    Công lao nổi bật của Anh hùng Trần Can

    Để học sinh hiểu đúng “công lao”, giáo viên có thể nhấn mạnh ba trục chính: đóng góp trong chiến đấu, tác động tinh thần đối với đồng đội và giá trị giáo dục lịch sử hôm nay.

    – Góp phần mở toang cứ điểm then chốt của địch

    Trong trận Him Lam, Trần Can được giao mũi thọc sâu, dẫn đầu tiểu đội vượt lô cốt tiền duyên, đánh vào sở chỉ huy, cắm cờ trên lô cốt và phối hợp tiêu diệt, bắt sống nhiều binh lính đối phương. Đây là khoảnh khắc biểu tượng, góp phần làm suy sụp tinh thần quân Pháp ngay từ trận mở màn, tạo đà cho toàn chiến dịch. Với học sinh, chi tiết “mũi thọc sâu” giúp hình dung vai trò đột kích, dũng cảm và khả năng hiệp đồng trong tác chiến.

    – Nâng tinh thần chiến đấu, củng cố niềm tin chiến thắng

    Hình ảnh lá cờ chiến thắng tung bay ở Him Lam không chỉ ghi dấu công lao cá nhân mà còn thổi bùng khí thế của toàn đơn vị. Tinh thần ấy giúp bộ đội trụ vững trước những đợt phản kích dữ dội sau đó, đặc biệt trong những trận giằng co ở các điểm cao khác quanh tập đoàn cứ điểm. Công lao của ông vì thế mang ý nghĩa tinh thần, giúp duy trì nhịp tiến công liên tục của Đại đoàn 312 và các đơn vị bạn.

    – Đóng góp vào truyền thống, để lại di sản giáo dục

    Sau chiến dịch, tấm gương anh hùng Trần Can được ghi công trong sử sách, các nhà truyền thống, bảo tàng; một số địa danh, trường học mang tên ông để giáo dục thế hệ trẻ. Tư liệu, hiện vật liên quan như chiếc mũ nan của ông được sưu tầm, trưng bày, trở thành “cầu nối” cảm xúc giữa lớp người đi trước và học sinh hôm nay. Đây là cơ sở quý để xây dựng giờ học trải nghiệm, hoạt động dự án về lịch sử địa phương – quốc gia.

    Những chiến tích và hy sinh anh dũng

    Để câu chuyện lịch sử “sống” trong lớp học, hãy dẫn dắt ngắn gọn trước khi đi vào từng mốc chiến công tiêu biểu. Các chiến tích của anh hùng Trần Can vừa phản ánh kỹ – chiến thuật, vừa cho thấy phẩm chất can trường của người lính Cụ Hồ.

    – Him Lam – lá cờ mở màn chiến thắng

    Ngày 13/3/1954, Him Lam là cứ điểm mở màn chiến dịch. Trong điều kiện hoả lực đối phương dày đặc, Trần Can chỉ huy mũi đột kích, vượt lô cốt, thọc sâu vào sở chỉ huy, cắm cờ chiến thắng và tổ chức làm chủ mục tiêu. Hành động quả cảm này làm rung chuyển hệ thống phòng thủ vòng ngoài của địch, khẳng định thế chủ động của ta ngay từ phát súng đầu tiên của chiến dịch. Các nguồn chính sử và báo chí quân đội đều ghi đậm vai trò của ông ở mũi thọc sâu này. 

    – Điểm cao 507 – kiên cường trước phản kích

    Ở trận điểm cao 507, ông tiếp tục dẫn đầu, giữ vững mỏm cột cờ trước nhiều đợt phản kích, góp phần ổn định bàn đạp tiến công. Mặc dù đây không phải là điểm đánh nổi tiếng như A1, nhưng quá trình giằng co ở các điểm cao đã tiêu hao sinh lực địch và bảo toàn thế trận cho toàn đại đoàn. Đây là minh chứng về bản lĩnh chiến thuật: giữ, phòng ngự tích cực, sẵn sàng phản kích.

    – Hy sinh vào ngày toàn thắng

    Trần Can hy sinh ngày 7/5/1954 – đúng ngày Điện Biên Phủ toàn thắng. Sự hy sinh ở thời khắc lịch sử ấy khắc sâu biểu tượng “chiến đấu đến cùng vì Tổ quốc”. Hai năm sau, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cùng nhiều huân chương cao quý, trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu bên cạnh các anh hùng liệt sĩ nổi tiếng khác của chiến dịch như Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót. 

    Anh hùng Trần Can - vẫy cờ chiến thắng trên cứ điểm Him Lam

    Anh hùng Trần Can – vẫy cờ chiến thắng trên cứ điểm Him Lam

    Ảnh hưởng, truyền cảm hứng và bài học lịch sử

    Hình ảnh anh hùng Trần Can có sức gợi mạnh về lòng yêu nước, kỷ luật và tinh thần tập thể. Với học sinh tiểu học và THCS, giáo viên có thể chuyển hoá câu chuyện thành bốn bài học cốt lõi:

    1. Hành động vì mục tiêu chung
      Từ mũi thọc sâu ở Him Lam đến việc giữ vững điểm cao 507, Trần Can luôn đặt nhiệm vụ lên trên bản thân. Bài học dành cho học sinh: khi làm dự án nhóm, hãy đặt mục tiêu chung trước, phân công rõ vai trò và hỗ trợ nhau để “chiếm lĩnh mục tiêu” như một tập thể.

  • Dũng cảm và kỷ luật
    Sự dũng cảm của ông không phải liều lĩnh, mà dựa trên kỷ luật thép và hiệp đồng. Trong giáo dục kỹ năng sống, thầy cô có thể gắn với khái niệm “kỷ luật tự giác”: tuân thủ quy trình học tập, quản trị thời gian, rèn luyện sức bền.

  • Biết ơn và trân trọng lịch sử
    Hiện vật, mộ chí, tên đường – trường học mang tên Trần Can là “bài học sống”. Một chuyến tham quan bảo tàng, nhà truyền thống, hay dự án làm báo tường chủ đề “Him Lam 1954” sẽ giúp học sinh nuôi dưỡng lòng biết ơn, hiểu giá trị hoà bình.

  • Tự hào quê hương
    Quê hương Nghệ An của anh hùng Trần Can cho thấy sức mạnh từ truyền thống hiếu học, kiên cường. Khi dạy Lịch sử – Địa lý, giáo viên có thể lồng ghép hoạt động “Bản đồ anh hùng quê em”, để học sinh tìm hiểu nhân vật lịch sử của địa phương, kể cả tấm gương Trần Can.

  • FAQs – giải đáp các câu hỏi về anh hùng Trần Can

    Vì sao anh hùng Trần Can được nhắc nhiều khi dạy về Điện Biên Phủ?

    Vì hình ảnh lá cờ chiến thắng trên cứ điểm Him Lam gắn liền với tên tuổi của ông, trở thành biểu tượng tinh thần quyết thắng. Câu chuyện giúp học sinh dễ hình dung diễn biến mở màn chiến dịch.

    Anh hùng Trần Can cắm cờ ở đâu?

    Ông cắm cờ trên cứ điểm Him Lam (Béatrice), một vị trí then chốt vòng ngoài của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chi tiết này thường được đưa vào bài học như một mốc sự kiện tiêu biểu.

    Anh hùng Trần Can hy sinh khi nào?

    Ông hy sinh ngày 7 tháng 5 năm 1954, đúng ngày chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Sự trùng hợp thời khắc làm tăng ý nghĩa biểu tượng về lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu đến cùng.

    Công lao nổi bật của anh hùng Trần Can thể hiện ở điểm nào?

    Ở vai trò chỉ huy mũi thọc sâu, làm chủ mục tiêu và nêu gương về kỷ luật – hiệp đồng. Tác động tinh thần của ông lan tỏa trong đơn vị, góp phần tạo đà thắng lợi cho chiến dịch.

    Kết Luận

    Anh hùng Trần Can là biểu tượng của lòng dũng cảm, kỷ luật và tinh thần vì tập thể. Từ lá cờ trên Him Lam đến thời khắc hy sinh ngày 7/5/1954, ông để lại một di sản tinh thần bền vững cho giáo dục lòng yêu nước và kỹ năng sống của thế hệ trẻ.

    chân dung người lính xứ Nghệ trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước hiện lên kiêu hãnh và xúc động qua hình ảnh hai người con tiêu biểu: Liệt sĩ Hoàng Thượng Lân và Cựu chiến binh Lê Bá Dương. Họ là đại diện cho một thế hệ thanh niên Nghệ Tĩnh gan dạ, tài hoa, sẵn sàng cống hiến trọn tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

    Sự kiên cường của lính Nghệ Tĩnh vốn là nỗi khao khát của các đơn vị chỉ huy nơi chiến trường miền Tây Nguyên, nhưng câu chuyện thực sự chạm đến trái tim lại nằm ở những hy sinh âm thầm của họ tại mặt trận Quảng Trị khốc liệt. Hoàng Thượng Lân, người con Hà Tĩnh sinh ra trong một gia đình trí thức, rời gian máy vẽ và cơ hội học tập yên bình ở miền Bắc để hai lần xung phong vào Nam chiến đấu. Anh chiến đấu, vẽ và viết bằng tất cả nhiệt huyết của con tim. Trước khi ngã xuống dưới trận bom B52 trên dòng Xê-băng-hiêng vào năm 1971, anh đã để lại những dòng nhật ký lay động về tình yêu Tổ quốc và sự tôn trọng tuyệt đối dành cho sự thật chiến trường.

    Cùng chung bầu máu nóng ấy là Lê Bá Dương, người con quê Nghệ An nhập ngũ khi mới 15 tuổi. Anh lập chiến công trở thành Dũng sĩ diệt Mỹ khi tuổi đời còn quá trẻ và từng trải qua hàng trăm trận đánh cam go. Trận đánh đỉnh cao tại cao điểm 544 đã ghi dấu khoảnh khắc sinh tử khi anh dùng chính máu của mình viết lời thề quyết tử lên ảnh Bác Hồ, chấp nhận gọi pháo bắn hủy trận địa để giữ vững bàn đạp tấn công cho đơn vị. Không chỉ là một người anh hùng trận mạc, Lê Bá Dương còn là tác giả của bốn câu thơ bất hủ bên dòng Thạch Hãn – tiếng lòng thổn thức tưởng nhớ những đồng đội đã tan hòa vào lòng sông quê hương, khơi nguồn cho nét đẹp văn hóa tâm linh thả đèn hoa đăng tri ân liệt sĩ ngày nay.

    Từ chuyện người lính trẻ trút hơi thở cuối cùng khi gửi lại hai hào Đảng phí và nhường từng cuốn băng gạc cho đồng đội, đến nỗi niềm đau đau "ngoảnh lại phía ngày xưa" của người còn sống, tác phẩm đã khắc họa trọn vẹn chất thép kiên trung hòa quyện cùng tâm hồn thắm tình nghĩa của những người con xứ Nghệ anh hùng.

    Ổ CHỨC CÁC ĐỘI HOÀNG SA VÀ BẮC HẢI, HÌNH THỨC ĐỘC ĐÁO DUY NHẤT CỦA QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC VÙNG QUẦN ĐẢO NGOÀI BIỂN ĐỒNG TRONG CÁC THẾ KỶ XVII-XVIII

    Cuốn sách xưa nhất và ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn viết vào năm 1776. Sách chép: “Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré…; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải…. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về…

    Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản…

    … Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hoá nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 (1753) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm (Cát Vàng?) huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu (Nguyễn Phúc Khoát?) sai cai bạ Thuận Hoá là Thức Lượng hầu làm thư trả lời”[2].

    Như vậy, thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, khách quan, xác thực và có giá trị sử liệu cao, Lê Quý Đôn đã giớí thiệu tương đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải.

    Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê-Trịnh biên soạn, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Ý nghĩa của Đại Việt sử ký tục biên chính là nó đã biến ghi chép khoa học, khách quan của Lê Quý Đôn thành một nội dung của bộ Quốc sử, chuyển tinh thần cơ bản của bản chép tay của Lê Quý Đôn thành bản khắc in chính thức trên danh nghĩa quốc gia.

    Đại Nam thực lục tiền biên là phần đầu bộ chính sử của triều Nguyễn được khởi soạn năm 1821, hoàn thành và khắc in năm 1844, có đoạn mô tả Vạn Lý Trường Sa và các đội Hoàng Sa, Bắc Hải không khácPhủ Biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên

    Toản tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo soạn năm 1686, phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng và ghi chú rõ mỗi năm đến tháng cuối đông Chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc. Khoảng một thập kỷ sau, vị Hoà thượng Trung Quốc Thích Đại Sán sau khi sang Đàng Trong, trên đường trở về nước đã mô tả khá chi tiết về bãi cát Vạn Lý Trường Sa và cho biết: “các Quốc vương [Chúa Nguyễn] thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào“[3].

    Thật ra từ thế kỷ XVI trở về trước, các nhà hàng hải phương Tây đã có nhiều ghi chép và vẽ bản đồ xác định vùng quần đảo giữa Biển Đông là Baixos de Chapar (Bãi đá ngầm Chămpa) hay Pulo Capaa (Đảo của Chămpa)[4] và đoạn bờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm (Quảng Nam) đến cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi) được gọi là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng Sa)[5]. Như thế từ rất lâu đời các nhà hàng hải phương Tây đã coi các quần đảo giữa Biển Đông có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển Đàng Trong. Bước sang thế kỷ XVII, số lượng tầu thuyền của người phương Tây đi đến vùng biển này thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng phong phú và chính xác hơn. Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tầu ở Paracel được người Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về Quảng Nam. Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá tiền bạc trên các tầu bị đắm ở Hoàng Sa. Chính vì thế mà vào năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tầu Amphitrite khẳng định: “Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam”[6].

    Như thế các tư liệu đương đại của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây thế kỷ XVII đều chép rất cụ thể, rõ ràng và thống nhất về sự hiện diện của đội Hoàng Sa.

    Tuy nhiên cũng cần phải xác định rõ trong thế kỷ XVII, đội Hoàng Sa được đề cập đến sớm nhất vào thời điểm nào và trong nguồn sử liệu nào?

    Sử sách nhà Nguyễn đều chép thống nhất đội Hoàng Sa được tổ chức ngay từ thuở quốc sơ, tức là từ thời các Chúa Nguyễn đầu tiên. Tuy nhiên sách cũng không xác định rõ là Nguyễn Hoàng hay Nguyễn Phúc Nguyên hoặc Nguyễn Phúc Lan?

    Tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày 15 tháng Giêng năm 1775, do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: “Nguyên xã chúng tôi xưa có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người…”. Tư liệu cho phép suy đoán lúc đầu chúa Nguyễn chỉ cho tổ chức một đội Hoàng Sa 70 suất, sau lập thêm đội Quế Hương và đến năm 1631 lại có thêm hai đội Đại Mạo Hải Ba và Quế Hương Hàm 30 suất nữa.

    Năm 1636, ng­ười Hà Lan đu­ợc Chúa Nguyễn cho phép mở một th­uơng điếm ở Hội An, dưới quyền điều hành của Abraham Duijcker. Ngày 6-3, tại Hội An Chúa Thư­ợng Nguyễn Phúc Lan đã tiếp Duijcker và nhân đó, Duijcker khiếu nại việc “chiếc tàu mang tên Grootenbroeck bị đắm ở ngoài khơi bãi cát Paracels, đoàn thuỷ thủ đã được các ng­ười Việt xứ Đàng Trong cứu giúp, nh­ưng đồng thời cũng lấy đi tổng số tiền là 25.580 réaux”. Ông có nhiệm vụ xin đ­ược bồi hoàn số tiền đó. Chúa Nguyễn Phúc Lan cho rằng “những việc đó xảy ra từ thời Chúa tr­ước (tức chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên), không nên đề cập đến nữa, ng­ược lại, ng­ười Hà Lan từ nay sẽ đ­ược hoàn toàn tự do mang hàng hoá đến buôn bán, đ­ược miễn thuế. Nếu như sau này có tàu Hà Lan bị đắm ở ngoài khơi thì sẽ không có chuyện tịch thu hàng hoá đ­ược cứu hộ nữa”. Phải chăng những người Việt cứu giúp tầu Grootenbroeck bị đắm ở Hoàng Sa nói trên chính là người của đội Hoàng Sa, và như vậy càng có cơ sở để khẳng định đội Hoàng Sa chí ít đã xuất hiện từ đầu những năm 30 của thế kỷ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). 

    Đại Nam nhất thống toàn đồ

    Bước sang thế kỷ XVIII, hoạt động chủ quyền của chúa Nguyễn ở các vùng quần đảo giữa Biển Đông càng trở nên nhộn nhịp thu hút sự chú ý nhiều người trong nước và nước ngoài. Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh các tài liệu chính thức của nhà nước, của các địa phương còn có những ghi chép của các thương nhân, giáo sĩ, các nhà quân sự, các phái bộ ngoại giao nước ngoài và các học giả trong và ngoài nước.

    Cũng đúng vào năm 1776, khi Lê Quý Đôn viết sách Phủ biên tạp lục khảo tả rất cụ thể về vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa, thì ở quê hương của đội Hoàng Sa, dân phường Cù Lao Ré làm đơn nói rõ đội Hoàng Sa đã có lịch sử lâu đời và bên cạnh chức năng thu lượm hoá vật, hải vật còn có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ an toàn vùng biển đảo: “Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương… Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp…”[7].

    Không chỉ thống nhất với các nguồn tư liệu chính thức của Nhà nước mà nguồn tư liệu này còn gắn liền với các di tích và truyền thuyết ở địa phương như miếu Hoàng Sa, những bến bãi đội Hoàng Sa xuất phát, thậm chí cả những ngôi mộ giả, những nghĩa địa giả với những nghi lễ hết sức đặc biệt của làng quê đưa tiễn những người con quả cảm của mình đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa, nguyện dấn thân vào cõi chết vì một vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc: “Hoàng Sa đi có về không/ Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi”.

    TRIỂN KHAI HÀNG LOẠT CÁC HÌNH THỨC THỰC THI CHỦ QUYỀN Ở CẢ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TRONG GẦN TRỌN THẾ KỶ XIX

    Dưới thời Nguyễn, những ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa phong phú, đa dạng với nhiều thông tin cụ thể trên cả hai khu vực tài liệu chính thức của Vương triều và tài liệu của các học giả.

    Bộ sách đồ sộ và có nhiều thông tin hơn cả về Hoàng Sa, Trường Sa là bộ Đại Nam thực lục Chính biên. Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long đã nhiều lần quan tâm đến việc kiểm tra, kiểm soát Hoàng Sa được sách ghi lại như: “sai mộ dân ngoại tịch lập làm đôi Hoàng Sa” năm 1803; “sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển” năm 1815 và năm 1816; nhận địa đồ đảo Hoàng Sa từ thuyền Mã Cao năm 1817…

    Hoạt động thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam đã phát triển lên trình độ cao hơn dưới thời trị vì của vua Minh Mệnh. Năm 1833, ông lập kế hoạch phái người ra Hoàng Sa dựng miếu, lập bia và trồng cây. Các năm 1834, 1835, ông cho người ra dựng miếu, đền thờ thần, lập bia đá và xây bình phong ở khu vực toà miếu cổ. Năm 1836, ông quyết định hàng năm phái người ra Hoàng Sa xem xét, đo vẽ tỉ mỉ và lập thành bản đồ các đảo, hòn, bãi cát. Khi ra đo đạc ngoài Hoàng Sa, đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đã mang theo 10 bài gỗ, trên mặt khắc dòng chữ “Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”. Liên tục từ năm 1834 đến năm 1839 vua Minh Mệnh thưởng công cho những người đi vẽ bản đồ ở ngoài đảo Hoàng Sa về. Đối với những người không may gặp gió bão ngoài biển mà bảo toàn tính mạng trở về cũng có thưởng; còn những người không hoàn thành nhiệm vụ tuần phòng ngoài biển thì bị phạt nặng…

    Bên cạnh Đại Nam thực lục Chính biên, dưới thời Minh Mệnh, Quốc sử quán còn được giao nhiệm vụ biên soan bộ Minh Mệnh chính yếu, trong đó quyển 25 có chép nhiều vụ tầu đắm ở ngoài Biển Đông, trôi dạt vào bờ đã được cứu giúp chu đáo. Chẳng hạn vào năm 1836 thuyền buôn nước Anh gặp gió bão ở Hoàng Sa, tạm ghé vào hải phận tỉnh Bình Định, đã được nhà vua “sai quan tỉnh tuyên cáo chỉ dụ của triều đình cho họ nghe, đồng thời mở cuộc phát chẩn…”. Điều này không chỉ nói lên lòng nhân đạo cao cả của người Việt, mà quan trọng hơn chính là nghĩa vụ, trách nhiệm cứu hộ trên biển của Nhà nước và cư dân Việt Nam với tư cách là chủ nhân của vùng biển đảo này.

    Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là bộ sách do triều thần nhà Nguyễn vâng mệnh vua ghi chép những việc làm của triều đình thuộc lục bộ về điển chương, pháp luật…. được hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 1843 đến năm 1851. Trong sách có đoạn chép về việc lập miếu, dựng bia, trồng cây ở Hoàng Sa và khảo sát, đo vẽ bản đồ toàn bộ khu vực, về cơ bản không khác so với Đại Nam thực lục chính biên.

    Quốc triều chính biên toát yếu là bộ sử trích các phần quan yếu của Đại Nam thực lục chính biên, trong đó quyển III có các đoạn chép về việc xây miếu và dựng bia, đo vẽ bản đồ và việc cứu hộ tầu Anh bị mắc cạn ghé vào bãi biển Bình Định.

    Lịch triều hiến chương loại chícủa Phan Huy Chú là bộ bách khoa thư lớn nhất của thế kỷ XIX, được hoàn thành vào năm 1821 có phần Dư địa chí chép về bãi Hoàng Sa và đội Hoàng Sa cũng giống như Phủ biên tạp lục.

    Việt sử cương giám khảo lược là bộ sách địa lý lịch sử của Nguyễn Thông chép về Vạn Lý Trường Sa ngoài những đặc điểm địa lý, tự nhiên và dấu tích của người Việt Nam trên đảo Hoàng Sa, ông còn nói khá cụ thể về đội Hoàng Sa như việc tuyển đinh tráng các xã An Vĩnh, An Hải, thời gian tồn tại của đội Hoàng Sa…

    Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán thời Tự Đức biên soạn từ năm 1865 đến năm 1882. Hoàng Sa, Trường Sa được giới thiệu trong quyển 8 (tỉnh Quảng Ngãi) phỏng theo Phủ biên tạp lục và những tư liệu tập hợp được trong Đại Nam thực lục. Riêng đoạn cuối sách cung cấp thêm: “Năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn 2.000 cân”.

    Nhiều công trình chuyên khảo hay những ghi chép khách quan của các quan chức, học giả đương thời khác cũng cung cấp thêm những thông tin có giá trị.

    Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng cũng chép “đảo Hoàng Sa (ở giữa bể, thuộc huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), dài rộng vài nghìn dặm)”.

    Bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa của Lý Văn Phức có một đoạn chú dài viết khá cụ thể về khu vực biển đảo mà chính tác giả suýt mắc nạn. Theo nguồn tài liệu này thì ngay từ đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã từng thuê các thuỷ thủ dày dạn kinh nghiệm và các phương tiện kỹ thuật hiện đại của phương Tây trực tiếp dẫn dắt một số con thuyền vượt Biển Đông. Điều này cũng góp phần giải thích bản đồ khu vực biển đảo của Việt Nam tuy vẫn giữ phong cách vẽ truyền thống, nhưng đã sớm cập nhật những thông tin mới và độ chính xác cao của bản đồ hằng hải các nước phương Tây đương đại.

    Bản đồ vẽ tay “các cửa sông An Nam” được lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp, có ghi quần đảo Hoàng Sa mở ngoặc bãi cát vàng
    Ảnh tư liệu chụp tại Thư viện Quốc gia Pháp

    Cũng thuộc nguồn tài liệu thư tịch và có giá trị cao để khẳng định quá trình các Nhà nước Việt Nam dưới thời Nguyễn thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa là các Châu bản triều Nguyễn. Qua nghiên cứu khảo sát 144 tập của hai triều Minh Mệnh và Thiệu Trị, chúng tôi tìm ra được một số tư liệu là bằng chứng rõ ràng về quá trình thực thi chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt Nam ở hai quần đảo này như bản dụ của vua Minh Mệnh (13/7/1835 và 13/7/1837) về các đoàn đi công vụ ở Hoàng Sa; các bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng về việc thuyền của Pháp mắc cạn ở Hoàng Sa (21/6/1830); các bản tấu của Bộ Công về việc phạt những người đi Hoàng Sa không lập xong bản đồ (13/7/1837), về việc phái đoàn công vụ lên đường ra Hoàng Sa nhưng do gặp gió lớn mà không xuất phát được… Đặc biệt có tờ tấu của Bộ Công (21/6 /1838) cho biết đoàn khảo sát Hoàng sa trở về báo cáo đã đến được 25 đảo (trong 3 sở), còn 1 sở hơi xa lại gặp gió lớn nên chưa tới được…

    Dưới thời Nguyễn bên cạnh việc triển khai đo vẽ thực tế ở Hoàng Sa, Trường Sa là việc nhà nước cho hoàn thành nhiều bộ bản đồ quan trọng, trong đó tiêu biểu nhất là Đại Nam nhất thống toàn đồ hoàn thành trong khoảng từ năm 1838 đến năm 1840 dưới thời vua Minh Mệnh. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong bản đồ được vẽ chung thành một cụm hình lưỡi dao kéo dài gồm khoảng ba chục đảo lớn, trong đó Hoàng Sa ở phía cực bắc được nối liền với Vạn Lý Trường Sa (tức Trường Sa) ở phía nam trong một chuỗi các đảo chưa có dấu hiệu phân tách. Thật ra vào năm 1830 cũng đã xuất hiện tấm Bản đồ vẽ theo phong cách này, nhưng đang còn ở dạng bản thảo và sau này thời Thiệu Trị có Đại Nam toàn đồ, dưới thời Tự Đức có Đại Nam nhất thống toàn đồ (Nam Bắc kỳ hội đồ) là sự tiếp nối của phong cách vẽ bản đồ hiện đại.

    Xuất hiện trước và sau Đại Nam nhất thống toàn đồ có khá nhiều bản đồ khác vẽ Hoàng Sa, Trường Sa vẫn theo phương pháp tryền thống như Nam Việt bản đồ, Thiên tải nhàn đàm, An Nam dư địa chí, Khải đồng thuyết ước, Nam Việt địa dư trích lục, Nam Việt địa đồ cựu lục… Các bản đồ này tuy không cung cấp thông tin mới, nhưng lại xác nhận một thực tế là suốt trong thế kỷ XIX, Hoàng Sa, Trường Sa đã được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh hay dùng làm sách phổ biến kiến thức để mọi người dân Việt Nam ghi nhớ phần lãnh thổ không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất.

    Ngay từ khi mới bắt đầu thiết lập Vương triều, Nguyễn Ánh tiếp tục công cuộc thám sát và phòng thủ biển nhằm củng cố chính quyền. Một người Pháp trở thành một đại thần trong triều là Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) trong khi làm quan ở Huế xác nhận: “Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ, bãi đá ngầm và mỏm đá không người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay mới chiếm hữu được quần đảo này”.

    Các tác giả phương Tây lúc đó, trong các tác phẩm của mình, cũng đều công nhận chủ quyền pháp lý của các vua nhà Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa.

    Giám mục Jean Louis Taberd người Pháp, người nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong cho rằng: “Quần đảo Pracel… Vào năm 1816, nhà vua đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”. Ông còn cho xuất bản cuốn Từ điển La Tinh An Nam và kèm theo tấm bản đồ An Nam đại quốc hoạ đồ, trong đó ở khoảng vĩ tuyến 170 bắc và kinh tuyến 1100 đông, bản đồ có vẽ một cụm các đảo nhỏ với dòng chữ ghi chú: Paracel Seu Cát Vàng.

    Tiến sĩ Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn cuốn sách Geography of the Cochinchinese Empire cho biết: “Chính phủ An Nam nhận thấy lợi ích có thể đem lại được nếu như dựng lên một ngạch quan thuế và đã duy trì những thuyền đánh thuế và một đội quân nhỏ đồn trú ở tại chỗ để thu thuế đối với tất cả những ai đến đó, và để bảo vệ những dân chài của nước họ”.

    Thuyền nan dùng cho binh phu đi Hoàng Sa được phục dựng trong Lễ khao thề tế lính Hoàng Sa

    Trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, khi Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, triều đình Tự Đức không còn đủ sức chống lại đã lần lượt để mất chủ quyền về tay Thực dân Pháp, trong đó có cả chủ quyền các vùng biển đảo. Tuy nhiên vùng đất máu thịt của tổ tông vẫn là niềm thôi thúc các thế hệ con dân đất Việt đấu tranh đến cùng để giành lại chủ quyền bằng mọi giá.

    Năm 1850, M. A Dubois de Jancigny, cựu đại uý, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương đã viết sách nói rõ: “Chúng tôi chỉ muốn nhận xét rằng đã từ 34 năm nay, (tức là từ 1816 đến 1850), quần đảo Paracels (mà những người An Nam gọi là Cát Vàng), thật là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát thật sự đã làm những người đi biển kinh hãi và chỉ có thể kể đến trong số những địa điểm hoang vu cằn cỗi nhất của địa cầu, quần đảo do đã bị các người xứ Đàng Trong chiếm giữ. Chúng tôi không rõ họ đã có đặt một cơ sở nào không (có thể với mục đích là bảo vệ công việc đánh cá), nhưng chắc chắn rằng nhà vua Gia Long đã chủ tâm đính thêm đoá hoa độc nhất vô nhị đó vào chiếc vương miện của ông, bởi vì ông đã xét thấy cần thiết phải đi tới việc đích thân chiếm giữ lấy quần đảo đó, và chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất đó”.

    *    *

    Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt động của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải (trong đó đặc biệt là đội Hoàng Sa) càng ngày càng được tập hợp phong phú hơn, đa dạng hơn. Chúng ta không chỉ biết về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải trong chủ trương thành lập và chỉ đạo hoạt động của các Chúa Nguyễn, của Vương triều Tây Sơn và các vua nhà Nguyễn, mà còn biết khá cụ thể các chủ trương ấy đã được chính quyền và nhân dân các địa phương tự giác chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ và hết sức nghiêm chỉnh. Đây không chỉ dừng lại ở những văn bản chính thức của Nhà nước và những hoạt động phong phú đa dạng ở các địa phương, mà còn được tập hợp trong những ghi chép của các học giả, các nhà chức trách Việt Nam, các thương nhân và giáo sĩ phương Tây, thậm chí đến cả nhà sư Trung Quốc đương đại, những người đã thông qua quan sát trực tiếp hay khảo cứu công phu từ những văn bản gốc về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải mà ghi chép lại một cách khách quan, trung thực.

    Lễ khao thề tế lính Hoàng Sa tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

    Tất nhiên các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác các vùng quần đảo xa giữa Biển Đông, cũng có lúc thiên về công việc khai thác, cũng có lúc thiên về công việc bảo vệ, nhưng dù là thiên về chức năng nào thì cũng không thể thay thế được các đội Thuỷ quân. Vì thế trong lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, có những lúc hoạt động của đội Hoàng Sa rất nổi bật, nhưng cũng có những lúc bị lu mờ, thậm chí có khi bị ghép chung vào công việc của đôi Thuỷ quân. Chúng ta từng biết có triều đình đã từng quyết định bãi bỏ đội Hoàng Sa và chuyển công việc của đội Hoàng Sa cho đội Thuỷ quân, nhưng ngay sau đó họ lại phải tính chuyện tái lập… Các đội Hoàng Sa, Bắc Hải dù hoạt động độc lập hay phụ thuộc vào đội Thuỷ quân, thậm chí có là hoạt động dưới danh nghĩa của đội Thuỷ quân đi nữa, thì cứ vẫn là một tổ chức độc đáo của các Nhà nước Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII, XIX trong chủ trương khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được.

    Đến giữa thế kỷ XIX trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, mặc dù dân các đảo Lý Sơn, Phú Quý, các xã An Vĩnh, An Hải, Bình An… vẫn tiếp tục đi ra Hoàng Sa, Trường Sa thu lượm hoá vật, hải sản dâng nộp cho triều đình Huế – nghĩa là vẫn thực hiện một chức năng của đội Hoàng Sa, Bắc Hải xưa, nhưng chức năng bảo vệ biển đảo đã chuyển hẳn cho các đội Thủy quân. Đến khi triều đình Huế thất thủ, không còn khả năng tổ chức lại quân đội, củng cố các đội Thuỷ quân để bảo vệ trực tiếp kinh thành Huế, thì đương nhiên họ cũng không còn khả năng khôi phục hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải nữa. Sự chấm dứt hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải, như thế, tuyệt nhiên không phải là do Nhà nước phong kiến Việt Nam từ bỏ chủ quyền của mình trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông.

    Tư liệu cho biết các Nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới các hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hoá vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thuỷ quân, Biền binh, Vệ giám thành mà cả binh đinh, dân phu. Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa Trường Sa đều phải có quyết định của Nhà nước dưới hình thức “tờ sai để thi hành công vụ” và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho thuyền ra khơi hay tạm dừng lại. Sau khi kết thúc công việc họ phải chạy thuyền thẳng về Kinh đô để báo cáo tình hình, khai nộp hoá vật, hải vật. Nhà vua thông qua Bộ Công để kiểm tra, đánh giá và tuỳ mức độ đóng góp hay vi phạm mà luận công hay định tội, thưởng phạt công minh. Những người hoàn thành nhiệm vụ đều được Nhà nước cấp bằng xác nhận. Công việc ở Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng gian nan nguy hiểm, nhiều trường hợp có đi mà không có về. Thậm chí có khi người ta phải làm lễ truy điệu sống, làm đám tang trước để an ủi người đi. Ý thức được đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm với quê hương đất nước, nhiều người thản nhiên đi vào cái chết, tự giác coi đó là trách nhiệm của chính mình. Trang lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa được viết bằng máu, được đánh đổi bằng cả cuộc đời của lớp lớp những con người như thế.

    Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất, bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta, mà bất cứ người Việt Nam chân chính nào cũng cần phải biết trân trọng và gìn giữ, không chỉ cho hôm nay, mà còn cho muôn đời sau.



    Nguồn sử liệu về Hai Bà Trưng

    Tài liệu lịch sử đầu tiên ghi chép về Hai Bà Trưng xuất hiện trong cuốn Hậu Hán Thư, được viết vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên bởi học giả Phạm Diệp. Cuốn sách này ghi lại lịch sử nhà Hán từ năm 6 đến năm 189 sau Công nguyên, với một số nội dung mô tả ngắn gọn về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống lại nhà Tây Hán. 

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 4

    Trong Hậu Hán Thư, quyển 86, phần "Tây Nam di liệt truyện" có ghi rằng vào năm Kiến Vũ thứ 16 (năm 40 sau Công nguyên), hai người phụ nữ từ Giao Chỉ là Trưng Trắc và Trưng Nhị đã đứng lên khởi nghĩa, tấn công vào quận phủ.

    Trưng Trắc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, kết hôn với Thi Sách, một nhân vật mạnh mẽ đến từ Chu Diên. Do bị Thái thú Tô Định đàn áp khốc liệt, Trưng Trắc đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán. 

    Cuộc khởi nghĩa nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các tộc trưởng của các quận như Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, giúp Hai Bà chiếm được 65 thành trì và tự xưng là Nữ vương. 

    Tuy nhiên, đến năm 42 sau Công nguyên, Hán Quang Vũ Đế đã cử tướng Mã Viện cùng quân đội đàn áp, và vào tháng 4 năm 43, quân đội nhà Hán đánh bại lực lượng của Hai Bà Trưng, dẫn đến sự thất bại và xử tử hai chị em cùng các đồng minh của họ.

    Trong các tài liệu lịch sử Việt Nam, Đại Việt sử lược là cuốn sách cổ nhất ghi chép về Hai Bà Trưng. Theo tài liệu này, Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, và bà kết hôn với Thi Sách, người đến từ Chu Diên. Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi nhận Hai Bà Trưng thuộc dòng dõi Lạc tướng Mê Linh, và sau khi lên ngôi, hai bà đã đổi sang họ Trưng.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 8

    Theo truyền thuyết, quê nội của Hai Bà Trưng nằm ở làng Hạ Lôi và quê ngoại ở làng Nam Nguyễn, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Mẹ của Hai Bà, được biết đến với tên gọi Man Thiện hoặc Trần Thị Đoan, là nhân vật có thể được thần thánh hóa vào thế kỷ 17 hoặc 18. 

    Theo các nhà sử học hiện đại, vào đầu Công nguyên, người Việt chưa có họ chính thức, do đó những tên gọi này có thể không hoàn toàn chính xác và mang tính chất thần thoại. Một số giả thuyết khác cho rằng tên của Hai Bà Trưng có nguồn gốc từ nghề dệt lụa truyền thống của Việt Nam.

     Cụ thể, tên "Trưng Trắc" và "Trưng Nhị" có thể xuất phát từ "Trứng Chắc" và "Trứng Nhì" trong tiếng Việt cổ, liên quan đến nghề dệt. Tuy nhiên, những giả thuyết này vẫn chưa có bằng chứng khoa học cụ thể và chủ yếu dựa trên sự suy luận.

    Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

    Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, theo các tài liệu ghi chép trong Hán thư và sử Việt, bắt nguồn từ sự áp bức nặng nề của Thái thú Tô Định đối với người dân Giao Chỉ. Sự khắc nghiệt trong chính sách cai trị, cùng với sự bóc lột tàn bạo của nhà Đông Hán, đã gây ra làn sóng phản kháng mạnh mẽ từ các Lạc tướng người Việt. 

    Trong khi Hán thư không ghi rõ nguyên nhân cái chết của Thi Sách, chồng của Trưng Trắc, thì Đại Việt sử ký toàn thư lại nhấn mạnh rằng đây là lý do chính khiến cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Tuy nhiên, tài liệu trước đó như Đại Việt sử lược không đề cập chi tiết về sự kiện này.

    Theo các học giả như Đào Duy Anh và Trần Quốc Vượng, chính sách đồng hóa cưỡng bức và áp lực bóc lột mà nhà Đông Hán áp đặt lên người Việt đã khiến các Lạc tướng liên kết và nổi dậy chống lại sự cai trị này. 

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 7

    Trưng Trắc, kết hôn với Thi Sách – con trai của một Lạc tướng tại Chu Diên, cùng chia sẻ chí hướng đấu tranh giành lại độc lập. Khoảng năm 39-40, để đối phó với phong trào chống đối ngày càng lan rộng, Thái thú Tô Định đã ra lệnh giết hại Thi Sách nhằm trấn áp tinh thần phản kháng.

    Sự kiện này khiến Trưng Trắc cùng các Lạc tướng căm thù sâu sắc. Với sự hỗ trợ từ em gái Trưng Nhị, Trưng Trắc đã tập hợp quân đội tại Hát Giang (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. 

    Vào tháng 2 năm 40, Hai Bà chính thức phát động cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ các lực lượng quân đội và nhân dân khắp các vùng Âu Lạc và Nam Việt cũ.

    Quân khởi nghĩa của Hai Bà đã nhanh chóng chiếm được trị sở Luy Lâu, buộc Thái thú Tô Định phải tháo chạy về Nam Hải (Trung Quốc). Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, và lực lượng của Hai Bà chiếm được 65 thành tại Lĩnh Nam. Sau chiến thắng, Trưng Trắc tự xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương), thiết lập quyền lực trên toàn bộ vùng đất vừa giải phóng.

    Diễn biến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

    Hội thề Hát Môn

    Vào ngày 4 tháng 9 năm Kỷ Hợi (năm 39), Hai Bà Trưng đã tổ chức Hội thề tại bãi đá Tràng Sa, cửa sông Hát (nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Đây là buổi lễ quan trọng, với lời thề của Trưng Trắc mang tinh thần quyết tâm giành lại độc lập cho đất nước và bảo vệ danh dự của chồng. Lời thề nổi tiếng của bà được ghi lại như sau:

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 2
    • “Một xin rửa sạch nước thù

  • Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

  • Ba kêu oan ức lòng chồng

  • Bốn xin vẹn trọn công lao này.”

  • Khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định

    Sau thời gian chuẩn bị, vào tháng 2 năm 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Theo Đại Việt sử ký tiền biên, mặc dù Trưng Trắc vẫn đang để tang chồng, bà vẫn quyết định trang điểm đẹp khi xuất quân nhằm tăng thêm nhuệ khí cho quân đội. 

    Quân khởi nghĩa nhanh chóng tấn công và chiếm được trị sở Luy Lâu, buộc Thái thú Tô Định phải chạy trốn về Nam Hải (nay thuộc Trung Quốc). Các quận như Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng hưởng ứng và quy phục cuộc khởi nghĩa. Trưng Trắc sau đó tự lập làm Trưng Nữ Vương, nắm quyền cai quản 65 thành tại Lĩnh Nam.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 6

    Thất bại và kháng chiến đến cùng

    Vào năm 41, nhà Hán nhận thấy sự xưng vương của Trưng Trắc và việc chiếm đóng các thành ấp đã đe dọa quyền lực của họ. Quân Hán dưới sự chỉ huy của Phục Ba tướng quân Mã Viện, với đội quân khoảng 20.000 người, đã tiến hành cuộc phản công quy mô lớn vào lãnh thổ Giao Chỉ.

    Cánh quân của Mã Viện tiến đến Lãng Bạc (gần La Thành, Hà Nội), đánh trận quyết định với quân Hai Bà. Trước tình hình khó khăn, Hai Bà lui quân về giữ Cấm Khê. Dù nỗ lực chống trả, vào năm 43, Hai Bà Trưng đã thất bại tại trận Cấm Khê và tử trận. Theo truyền thuyết Việt Nam, Hai Bà đã chọn cách tự vẫn tại sông Hát để giữ trọn khí tiết, trong khi Hậu Hán thư của Trung Quốc ghi rằng Hai Bà bị bắt và xử tử.

    Đánh giá cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

    Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhiều sử gia đánh giá là một dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, thể hiện tinh thần anh hùng và bất khuất của người Việt. Sử gia Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký toàn thư ca ngợi Hai Bà Trưng dù là phụ nữ nhưng chỉ cần hô một tiếng đã nhận được sự hưởng ứng từ các quận và nhân dân khắp nơi. 

    Sử gia Nguyễn Nghiễm thời Lê trung hưng nhận xét rằng Trưng Trắc, với tài lãnh đạo xuất chúng, đã khơi dậy lòng căm thù đối với nhà Hán và tạo nên cuộc khởi nghĩa lớn, giúp dân chúng thoát khỏi cảnh áp bức. Dù khởi nghĩa sau đó thất bại, nhưng nó vẫn để lại một dấu ấn mạnh mẽ về tinh thần độc lập.

    Vua Tự Đức trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục cũng tôn vinh sự dũng cảm của Hai Bà Trưng khi dám đứng lên chống lại nhà Hán, dù biết trước những khó khăn và sự cô lập. Ông cũng chỉ trích những nam tử thời bấy giờ vì không dám đứng lên đấu tranh.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 5

    Hai Bà Trưng không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước mà còn được xem là biểu tượng cho quyền bình đẳng giới trong văn hóa Việt Nam. Sự lãnh đạo của Hai Bà, cùng hàng trăm nữ tướng khác, đã khắc sâu truyền thống bất khuất của phụ nữ Việt Nam. Nguyên lý Mẹ và bình quyền nam nữ in sâu trong văn hóa Việt, khiến nhiều học giả coi đây là điểm vượt trội so với các nền văn hóa phương Đông và phương Tây.

    Công trình vinh danh Hai Bà Trưng

    Hiện nay, có 103 địa điểm thờ cúng Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh tại khắp Việt Nam, nổi bật tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, và Thái Bình. Đền Hát Môn, Đền Đồng Nhân và Đền Hạ Lôi là những nơi quan trọng thờ Hai Bà, trong đó Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội) là nơi Hai Bà từng dấy binh.

    Tiểu sử Hai Bà Trưng 3

    Ngoài ra, tại Trung Quốc, vẫn tồn tại miếu thờ Hai Bà Trưng do các thủ lĩnh Việt Nam bị bắt lập ra để tưởng nhớ quê hương.

    Tên Hai Bà Trưng được đặt cho nhiều trường học, đường phố và công trình văn hóa, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng dân tộc.

    T

    Sự kiện Hai Bà Trưng

    Hàng năm, vào ngày 6 tháng 2 âm lịch, lễ hội tưởng nhớ Hai Bà Trưng được tổ chức long trọng để ghi nhớ công lao to lớn của hai vị nữ anh hùng. Trước đây, từ năm 1955 đến 1975, sự kiện này còn là ngày lễ chính thức của Việt Nam Cộng hòa, với các hoạt động diễu hành và lễ nghi trang trọng. Đặc biệt, ngày này từng được công nhận là Ngày Phụ nữ Việt Nam tại miền Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa.

    Sau năm 1976, khi đất nước thống nhất, ngày lễ tưởng nhớ Hai Bà Trưng không còn được công nhận là ngày lễ chính thức trên toàn quốc. Dù vậy, hình ảnh Hai Bà Trưng vẫn luôn hiện diện trong lòng người dân Việt Nam qua các truyền thuyết, trò chơi dân gian, truyện tranh, và các tác phẩm văn học. Hình tượng anh hùng của Hai Bà tiếp tục được tôn vinh, là biểu tượng của sự kiên cường và tinh thần độc lập của dân tộc.



    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn