Câu chuyện Hai Bà Trưng
Hai Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị, người huyện Mê Linh, khởi nghĩa năm 40 SCN chống sự đô hộ nhà Hán. Lý do chính: chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách bị quan Thái thú Tô Định giết hại, lại thấy nhân dân bị áp bức bóc lột. Nghĩa quân do Hai Bà lãnh đạo, chỉ trong vài tháng đã thu hồi được 65 thành trì, giành lại độc lập. Trưng Trắc được tôn làm vua, lập đô tại Mê Linh. Nhưng năm 42 SCN, nhà Hán cử Mã Viện dẫn quân xâm lược trở lại. Hai Bà chống trả quyết liệt nhưng thế lực chênh lệch, cuối cùng hai bà tự vẫn trên sông Hát Giang năm 43 SCN để giữ tiết nghĩa. Hai Bà Trưng mãi là biểu tượng anh hùng dân tộc, nữ anh hùng đầu tiên của nước ta đứng lên giành lại độc lập.
Vào đầu thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, nước ta nằm dưới sự thống trị của nhà Hán. Các quan lại đô hộ phương Bắc áp thuế nặng, bóc lột nhân dân, làm dân ta vô cùng khổ cực. Khi ấy, ở huyện Mê Linh, châu Giao Chỉ, có hai chị em tài giỏi: Trưng Trắc và Trưng Nhị, thường được gọi chung là Hai Bà Trưng.
Chồng của Trưng Trắc là Thi Sách, người có chí lớn, được nhân dân kính trọng. Quan Thái thú Tô Định biết Thi Sách không khuất phục, lại sợ ông làm loạn, nên đã tìm cách giết Thi Sách. Mất chồng, lại chứng kiến dân làng bị áp bức, Trưng Trắc nuốt nỗi đau, quyết tâm đứng lên phất cờ khởi nghĩa, trả thù nước nhà, cứu dân ra khỏi cảnh lầm than.
Ngày mồng sáu tháng Hai năm Canh Tý (năm 40 SCN), tại đền Hát Môn, hai chị em cùng nhau hội họp các hào kiệt, tuyên thệ: "Một là báo thù cho nước, hai là trả thù cho chồng, ba là giải cứu nhân dân khỏi nỗi khổ cực, bốn là giữ gìn đất tổ tiên". Trưng Trắc được tôn làm thủ lĩnh, Trưng Nhị làm phó tướng, dẫn nghĩa quân tiến ra đánh các thành trì của giặc.
Tinh thần nghĩa quân hừng hực như lửa, đi đến đâu được nhân dân khắp nơi ủng hộ, tự nguyện góp lương thực, tham gia chiến đấu. Chỉ trong vòng vài tháng, nghĩa quân đã liên tiếp chiếm được hơn 65 thành trì, từ Giao Chỉ đến Cửu Chân, Nhật Nam. Quan lại đô hộ hoảng sợ, bỏ thành chạy về nước. Toàn bộ đất nước được thu hồi, cờ nước ta lại tung bay trên quê hương.
Để củng cố chính quyền, Hai Bà Trưng được tôn làm vua, Trưng Trắc là Vua Trưng, Trưng Nhị là Vương Trưng, lập đô ở Mê Linh. Hai Bà ra lệnh bỏ mọi thuế bạc của nhà Hán, chăm sóc đời sống nhân dân, khuyến nông, thủ công, khiến nhân dân yên cư lạc nghiệp.
Nhưng nhà Hán không chịu thất bại. Năm 42 SCN, họ cử đại tướng Mã Viện dẫn hàng vạn quân sang xâm lược trở lại. Hai Bà Trưng lãnh đạo nghĩa quân kiên cường chống trả, nhưng vì lực lượng quá chênh lệch, vũ khí thô sơ không chống nổi giặc đông và mạnh. Nghĩa quân dần thất thế.
Để không rơi vào tay giặc, ngày mồng sáu tháng Hai năm Quý Mão (năm 43 SCN), Hai Bà Trưng cùng nhau ra sông Hát Giang (sông Đuống), tự vẫn để giữ trọn tiết nghĩa. Dân làng vô cùng thương tiếc, lập đền thờ Hai Bà tại quê hương Mê Linh và khắp nơi trên đất nước, đời đời kính trọng hai nữ anh hùng.
Hai Bà Trưng đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, khí tiết kiên cường và ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh hai nữ tướng cưỡi voi đánh giặc sẽ mãi được lưu truyền trong tâm trí người Việt, như ngọn lửa soi đường cho bao thế hệ sau noi theo.



